Buồng trứng đa nang

Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    Avatar của monkey123
    monkey123 Đang Ngoại tuyến Răng sữa
    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Thành Phố
    Bài viết
    156
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Buồng trứng đa nang

    (SKDS) - Buồng trứng đa nang ngoài việc gây nên rối loạn kinh nguyệt hoặc tình trạng “nam tính hóa’’ còn là nguyên nhân gây vô sinh vì tuy số lượng trứng phát triển rất nhiều nhưng không mấy trứng có thể phát triển hoàn chỉnh để phóng noãn được như với người bình thường.
    Khi bị buồng trứng đa nang, người bệnh thường có những triệu chứng sau đây:
    Kinh nguyệt bị rối loạn: Đa số thể hiện bằng tình trạng kinh ít, kinh thưa, thậm chí có người vô kinh (không có kinh nữa) nhưng lại cũng có người bị rong kinh (kinh nguyệt ít một nhưng kéo dài nhiều ngày), thậm chí băng kinh (lượng máu kinh ra quá nhiều). Lý do thất thường này tùy thuộc vào buồng trứng đa nang ở người phụ nữ này gây giảm thiểu chất nội tiết estrogen hay chất progesteron.


    Ảnh minh họa (nguồn Internet)
    Cơ thể người phụ nữ xuất hiện các dấu hiệu “nam tính hóa”
    như mọc ria mép, râu cằm, lông chân và lông mu giống như của nam giới (lông mu không chỉ từ vùng mu trở xuống theo hình tam giác mà phát triển lên trên hướng về rốn có dạng hình thoi). Một số người còn thấy âm vật to ra, một số lại béo phì.
    Để chẩn đoán bệnh cảnh của buồng trứng đa nang hiện nay các bác sĩ sản khoa dựa vào các đặc điểm lâm sàng của bệnh và quan sát hình ảnh của buồng trứng và các nang noãn đang phát triển tại đó qua hình ảnh trên màn hình siêu âm hoặc khi soi ổ bụng. Ngoài ra một số xét nghiệm sinh hóa, nội tiết cũng giúp cho việc xác định chẩn đoán.
    Thăm khám phụ khoa thầy thuốc dễ dàng nhận thấy hai buồng trứng của người bệnh to hơn bình thường, căng nhưng vẫn di động dễ.

    Ảnh: KH
    Với máy siêu âm hiện nay dùng đầu dò qua thành bụng (nhưng tốt hơn là dùng đầu dò âm đạo) sẽ dễ dàng phát hiện cả 2 buồng trứng to hơn bình thường, qua mặt ngoài của buồng trứng thấy rất nhiều nang trứng đang phát triển, thường xếp thành một vòng cung như một dây tràng hạt bên rìa buồng trứng. Cũng có khi thấy các nang trứng xếp dày đặc khắp bề mặt buồng trứng như đám hột mít nằm trên đĩa.
    Nếu dùng phương pháp soi ổ bụng thì có thể quan sát trực tiếp thấy buồng trứng to, tròn chứ không dẹt như bình thường. Vỏ buồng trứng dày và trắng như sứ nên thường được gọi là vỏ xà cừ. Ẩn dưới lớp vỏ này là vô số các nang noãn nổi gồ lên.
    Về điều trị, người bị buồng trứng đa nang cần được phát hiện sớm để điều trị bằng các thuốc nội tiết phù hợp hoặc nếu cần thì mổ để giúp buồng trứng có thể tạo nên các nang noãn bình thường gây “rụng trứng” như mọi phụ nữ khác (hiện nay phần lớn là mổ nội soi) và khi đó họ có thể thai nghén và sinh đẻ được.


    Bác sĩ Phó Đức Nhuận
    Nguồn suckhoedoiosng


  2. #2
    Avatar của mebehoahong
    mebehoahong Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Oct 2012
    Đang ở
    tphcm
    Bài viết
    4
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 2 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Phẫu thuật nội soi trong điều trị hội chứng buồng trứng đa nang
    ThS.BS.Võ Thanh Liên Anh
    Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) là rối loạn nội tiết thường gặp ảnh hưởng 6-8% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (1), và là nguyên nhân chủ yếu gây rối loạn phóng noãn. Hội chứng buồng trứng đa nang bao gồm kết hợp một nhóm các rối loạn biểu hiện về lâm sàng (béo phì, thiểu kinh hoặc vô kinh, rậm lông), về cận lâm sàng (tăng nồng độ nội tiết tố LH, androgen), và siêu âm (buồng trứng đa nang). Các chứng cứ y học hiện nay còn cho thấy PCOS có liên quan với tình trạng kháng insulin.
    Không phóng noãn là vấn đề thường gặp nhất ở phụ nữ bị PCOS. Clomiphene citrate (CC) vẫn là lựa chọn điều trị đầu tay để kích thích phóng noãn ở những trường hợp này, và có thể đạt được tỉ lệ phóng noãn 60-85% (2,3). Các bệnh nhân PCOS kháng CC có thể được điều trị bằng gonadotrophins, hMG hay FSH hay phẫu thuật nội soi đốt điểm buồng trứng (Laparoscopic ovarian surgery-LOS). Tỉ lệ phóng noãn (>80%) và có thai (khoảng 60%) sau LOS cao khiến nhiều tác giả đã đề nghị lựa chọn điều trị LOS thay cho gonadotrophin ở những bệnh nhân kháng CC (4,5). Hơn nữa, sau LOS buồng trứng có thể nhạy hơn với kích thích CC (6).
    Lịch sử
    Năm 1930: Stein và Leventhal thực hiện phẫu thuật xẻ múi cam trên buồng trứng để điều trị PCOS. Tuy nhiên, phẫu thuật này đi kèm với nguy cơ cao dính sau mổ và teo buồng trứng.
    Năm 1960: Greenblatt đề ra sử dụng CC là điều trị đầu tay của PCOS, phẫu thuật chỉ thực hiện khi điều trị nội thất bại.
    Năm 1967: Nội soi sinh thiết buồng trứng
    Năm 1978: Nội soi đốt điểm buồng trứng (diathermy)
    Năm 1988: Nội soi đốt điểm buồng trứng (laser)
    Chỉ định
    Nội soi đốt điểm buồng trứng là điều trị lựa chọn kế tiếp để kích thích phóng noãn sau khi thất bại với CC ở bệnh nhân PCOS. Có 3 dạng thất bại với CC:

    1. Không phóng noãn khi dùng CC (kháng CC)
    2. Không có thai, mặc dù có phóng noãn khi uống CC. LOS nhằm đạt phóng noãn tự nhiên và tránh tác dụng kháng estrogen của CC trên (a) nội mạc tử cung, mà có thể ảnh hưởng hại cho làm tổ và (b) chất nhầy cổ tử cung, ảnh hưởng sự xâm nhập của tinh trùng. LOS cũng giúp tránh được các đáp ứng nội tiết bất thường gặp khi dùng CC như LH cao bất thường giữa chu kỳ gây hoàng thể hóa sớm.
    3. Thất bại duy trì thai kỳ sau điều trị CC: Tỉ lệ sảy thai sớm của bệnh nhân PCOS sau điều trị CC cao (lên đến 40%) có thể do nồng độ androgen và LH cao ở những bệnh nhân này. LOS làm giảm tỉ lệ sảy thai (21%) có thể do làm hạ xuống mức bình thường nồng độ androgen và LH.

    LOS còn chỉ định điều trị cho những trường hợp rối loạn kinh nguyệt do PCOS, mà bệnh nhân có chống chỉ định dùng nội tiết.
    Ưu điểm của LOS

    1. Có hiệu quả tương đương điều trị gonadotrophin
    2. Tránh được việc theo dõi phức tạp như trong điều trị gonadotrophin
    3. Rẻ tiền hơn, có hiệu quả gây phóng noãn vài tháng hay năm
    4. Tránh được quá kích buồng trứng
    5. Không tăng nguy cơ đa thai
    6. Điều chỉnh bất thường nội tiết của PCOS như tăng LH và androgen
    7. Có thể giảm tần suất sảy thai

    Nội soi đốt điểm buồng trứng so với điều trị gonadotrophin
    LOS có ưu điểm hơn điều trị gonadotrophin, nên được khuyến cáo là lựa chọn tiếp theo ở những bệnh nhân kháng CC (7).

    LOS Gonadotrophin
    Tỉ lệ có thai 50% (12 tháng) 20% /chu kỳ
    Chi phí/thai £2000 £4000
    Đa thai <2% >20%
    Sảy thai <20% >20%
    Biến chứng Dính quanh buồng trứng
    Suy buồng trứng (?)
    Nguy cơ quá kích buồng trứng
    Ung thư buồng trứng (?)
    Kĩ thuật
    Đốt điện
    Phẫu thuật nội soi này cần ít nhất 3 lỗ trocar. Đầu tiên, vùng chậu được đánh giá toàn thể, buồng trứng được quan sát ghi nhận kích thước, và các biểu hiện phù hợp chẩn đoán PCOS.
    Dùng forceps không răng gắp dây chằng tử cung buồng trứng, nâng buồng trứng tách biệt khỏi ruột để tránh sự truyền nhiệt xuống ruột, gây tổn thương ruột do nhiệt.
    Sử dụng đầu đốt điện đơn cực có chiều dài nhô ra 8mm, đường kính 2mm, bao bọc bởi lõi đặc cách điện có đường kính tối đa 6mm. Khi đầu đốt điện đâm qua vỏ buồng trứng, lõi cách điện này ngăn cản việc đâm vào quá sâu và giới hạn tổn thương nhiệt trên bề mặt buồng trứng. Lưu ý khi sử dụng đầu đốt đơn cực, chúng ta phải đâm vuông góc với bề mặt buồng trứng, nhằm tối thiểu tổn thương bề mặt buồng trứng. Vị trí đốt cần phải xa cuống buồng trứng và vòi trứng, để tránh nguy cơ dẫn đến suy buồng trứng hay tổn thương ống dẫn trứng.
    Khi kim đã được đâm vào vỏ buồng trứng, điện cực mới nên được kích hoạt trong thời gian 5 giây. Với đầu đơn cực có công suất hiện nay thường sử dụng là 30 watt, năng lượng nhiệt đốt cho mỗi lỗ là 5 giây × 30 W= 150 Joules. Chỉ kích hoat đầu điện đơn cực sau khi đâm kim qua vỏ buồng trứng nhằm giới hạn tổn thương bề mặt buồng trứng do hiệu ứng nhiệt, giới hạn hình thành dính sau này.
    Số lỗ đâm vào mỗi buồng trứng hiện vẫn chưa được thống nhất, thường 4-6 lỗ mỗi buồng trứng. Sau khi đốt, buồng trứng được làm nguội với dung dịch NaCl 9‰ rồi mới thả ra tiếp xúc với ruột.
    Laser: 4 loại được dùng: YAG, CO2, KTP và argon
    Hai phương pháp này có hiệu quả gần tương đương trong việc đạt được phóng noãn và có thai. Tuy nhiên phương pháp đốt bằng điện có ưu điểm hơn vì ít dính sau mổ hơn (phương pháp laser, đặt biệt là laser CO2 có nguy cơ dính nhiều hơn do tổn thương bề mặt buồng trứng nhiều). Ngoài ra, đốt điện rẻ tiền, tác dụng lại kéo dài hơn laser.
    Hiệu quả nội tiết của LOS

    1. Hiệu quả trước mắt:


    • FSH, LH

    Tăng thoáng qua 24-48 giờ sau mổ, sau đó giảm dần

    • Estrogen

    Giảm vài ngày đầu sau phẫu thuật. Ở bệnh nhân có phóng noãn sau đó, estradiol bắt đầu tăng với sự phát triển nang noãn, khoảng 1 tuần sau mổ. Đối với bệnh nhân không có phóng noãn sớm, estradiol tăng từ từ vài tuần sau.

    • Androgens

    Testosterone, androstenedione và dihydrotestosterone giảm nhanh và duy trì kéo dài.

    • Tình trạng kháng insulin

    Tình trạng kháng insulin và bất thường lipoprotein đi kèm với PCOS không cải thiện sau LOS.

    1. Hiệu quả lâu dài

    Thời gian có tác dụng có lợi sau LOS là bao lâu vẫn chưa rõ. Một vài tác giả báo cáo là vài tháng đến 2 năm (8), có tác giả lại báo cáo 18-20 năm (9).
    Cơ chế hoạt động của LOS
    chế làm thay đổi nội tiết thuận lợi của bệnh nhân PCOS sau LOS vẫn chưa được biết chính xác. Có thể LOS phá hủy tại chỗ phần mô sản xuất androgen của buồng trứng, việc giảm androgen này sẽ phục hồi cơ chế điều chỉnh bình thường trục hạ đồi- tuyến yên- buồng trứng. Giả thuyết nồng độ estradiol giảm những ngày đầu sau LOS sẽ làm giảm tác dụng feedback âm lên FSH, và feedback dương lên LH ở mức độ tuyến yên. Nồng độ FSH tăng sau mổ sẽ làm tăng hoạt động thơm hóa trong các nang noãn. Việc này làm giảm nồng độ androgen tại chỗ làm thay đổi môi trường bên trong nang noãn từ trội androgen sang estrogen. Gần đây, có giả thuyết cho rằng LOS gây thương tổn buồng trứng dẫn đến việc sản xuất nhiều yếu tố non-steroid, ảnh hưởng cơ chế feedback buồng trứng- tuyến yên, làm giảm nồng độ LH (10). Cũng có giả thuyết cho rằng buồng trứng sản xuất một số yếu tố tăng trưởng (như IGF-I) phản ứng với tổn thương mô, làm cho buồng trứng tăng nhạy với FSH, gây kích thích nang noãn phát triển.
    Biến chứng của LOS
    Tổn thương dây chằng tử cung – buồng trứng, chảy máu từ lỗ đốt: hiếm gặp.
    Hình thành dính quanh buồng trứng sau mổ, thường dính nhẹ đến trung bình.
    Suy buồng trứng sau mổ, do hủy mô buồng trứng quá mức, hay tổn thương mạch máu nuôi buồng trứng.
    Thất bại sau LOS
    Không phóng noãn: Nếu bệnh nhân vẫn không phóng noãn tự nhiên sau phẫu thuật, sẽ được điều trị lại với Clomiphene citrate. Buồng trứng lúc này sẽ nhạy hơn với CC, tỉ lệ phóng noãn có thể đạt đến 90%. Nếu bệnh nhân vẫn không phóng noãn với CC, lựa chọn điều trị khác: gonadotrophin, IVF.
    Không có thai, mặc dù có phóng noãn: Sau 12 tháng theo dõi, nếu bệnh nhân có phóng noãn mà vẫn không có thai, nên lựa chọn điều trị khác: gonadotrophin, IVF.

    Tài liệu tham khảo
    1.Asuncion M, Calvo RM, San Millan JL, Sancho J, Avila S, Escobar-Morreale. A prospective study of prevalence of the PCOS in unselected Caucasian women from Spain. J Clin Endocrinol Metab 2000; 85:2434-2438
    2. Dickey RP, Taylor SN, Curole DN, Rye PH, Pyrzak R. Incidence of spontaneous abortion in clomiphene pregnancies. Hum Reprod 1996; 11: 2623-2628
    3. Kousta E, White MD, Franks S. Morden use of clomiphene citrate in induction of ovulation. Hum Reprod Update 1997; 3: 359-365
    4. Armar NA, McGarrigle HH, Honour J, Holownia P, Jacobs HS, Lachelin GC. Laparoscopic ovarian diathermy in the management of anovulatory infertility in women with polycystic ovaries: endocrine changes and clinical outcome. Fertil Steril 1990; 53: 45-49
    5. Kovacs G, Buckler H, Bangah M, Outch K, Burger H, Healy D et al. Treatment of anovulation due to PCOS by laparoscopic ovarian electrocautery. Br J Obstet Gynaecol 1991; 98: 30-35
    6. Gjonnaess H. Polycystic ovarian syndrome treated by ovarian electrocautery through the laparoscope. Fertil Steril 1984; 41: 20-25
    7. Saravelos H, Li TC, Bontis J, Tarlatzis BC, Cooke ID. Laparoscopic management of PCOS. Gynaecol Endosc 1997; 6: 331-340
    8. Balen AH, Jacobs HS. A prospective study comparing unilateral laparoscopic and bilateral laparoscopic ovarian diathermy in women with PCOS. Fertil Steril 1994; 62: 921-925
    9. Gjonnaess H. Late endocrine effects of ovarian electrocautery in women with PCOS. Fertil Steril 1998; 69: 697-701
    10. Rossmanith WG, Keckstein J, Spatzier K, Lauritzen C. The impact of ovarian laser surgery on the gonadotropin secretion in women with PCO disease. Clin Endocrinol 1991;34: 223-230

    http://ivfhungvuong.com.vn/modules.p...ang=vietnamese

Tag của Chủ đề này


SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.