Like Tree7Likes

Cây thuốc và bài thuốc hay !!!

Trang 2 của 5 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 47
  1. #11
    Avatar của JimmyFlora
    JimmyFlora Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    24
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Phù dung là loại cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh, tên khoa học là Hibiscus mutabilis L., trong dân gian còn gọi là mộc liên, địa phù dung, tam biến hoa, thất tinh hoa, sương giáng hoa, túy tửu phù dung, đại diệp phù dung...
    Theo y học cổ truyền, hoa phù dung vị cay, tính bình, có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết, chỉ huyết (làm mát huyết và cầm máu), tiêu thũng chỉ thống, thông kinh hoạt huyết, bài nùng; dùng để chữa các chứng bệnh như ung thũng, mụn nhọt lở loét, bỏng, ho do phế nhiệt, thổ huyết, băng lậu, bạch đới... Một số cách dùng cụ thể như sau:
    Cảm mạo: Hoa hoặc lá phù dung 30g, hậu phác 3g. Sắc kỹ 2 lần lấy 2 nước hòa đều, chia uống 3 lần trong ngày.
    Ho do hư lao: Hoa phù dung 60 – 120g, lộc hàm thảo 30g, đường đỏ 60g, hầm với tim và phổi lợn ăn.
    Ho ra máu: Hoa phù dung 10 đóa sắc uống, ngày một thang.
    Tử cung xuất huyết, kinh nguyệt kéo dài không dứt: Hoa phù dung 9 - 30g sắc uống hoặc hoa phù dung và gương sen (liên phòng) lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 6g với nước cơm.
    Kinh nguyệt không đều: Hoa phù dung hoặc vỏ rễ 9 – 12g, sắc uống ngày 1 thang.



    http://jimmydang.vn/blog_vi/post/PHU-DUNG-HOA-VA-CONG-DUNG-CHUA-BENH.aspx

  2. #12
    Avatar của dethuong
    dethuong Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Sep 2010
    Bài viết
    3
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Cây Bồ Kết cho chị em chúng mình mái tóc đẹp tự nhiên với màu đen gần gũi. Với cách làm truyền thống kết hợp với bài thuốc gia truyền, gia đình Đông Y của bác Thành (04 35621465) đã làm ra dầu gội tắm đông y 893 có truyền thống hơn 60 năm nay. Bác Thành là con của Bác Sỹ Lê Khánh Đồng - nhà nghiên cứu Đông Y nổi tiếng http://vi.wikipedia.org/wiki/Lê_Khánh_Đồng

  3. #13
    Avatar của desigvn
    desigvn Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Jul 2010
    Bài viết
    18
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Chữa viêm xoang bằng cây cứt lợn

    Chữa viêm xoang bằng cây cứt lợn


    cây cứt lợn (cỏ hôi)



    Một số vùng quê ở nước ta gọi là cỏ hôi, cỏ thúi địch (đừng nhầm với cây thúi địch hoang). Tên khoa học Ageratum conysoides. Mọc rất nhiều ở bãi ruộng hoặc ven sông rạch. Thân thảo, lá đơn có răng cưa, lông tơ rất nhiều, về mùa thu trổ hoa nhỏ màu tím xanh, khi già lá tím thẫm.

    Đặc biệt, cây hoa cứt lợn (vì mùi hoa và lá hôi như phân lợn) tiết ra tinh dầu gồm các hoạt chất geratocroen, cadinen, cariophille cùng một số hoạt chất khác. Đây là những vị thuốc quý.
    - Bệnh nhân viêm xoang, viêm mũi luôn khịt khạc, chảy nước mũi kinh niên (trẻ từ 3-10 tuổi), phụ nữ bị dị ứng thời tiết: Dùng 50gr cây hoa cứt lợn tươi rửa sạch (mua ở các sạp bán thuốc xông tại chợ), giã nát, vắt lấy nước cốt. Dùng bông tẩm mỗi lần một muỗng, ngày 2 lần, liên tục 7 ngày.
    Ngoài ra, cây cứt lợn còn dùng trị các bệnh khác như:
    - Người cao tuổi cảm cúm, ho khi trở trời: Mua nồi xông gồm lá mã đề, rễ tranh, lá bưởi, khuynh diệp, sả và 300gr hoa cứt lợn. Nấu trong 2 lít nước, sôi 20 phút. Xông khoảng 15 phút. Tinh dầu hoa cứt lợn sẽ giúp thông đường hô hấp, toát mồ hôi, giải độc, khỏe hẳn, dứt ho, sốt.
    - Ăn nhằm thức ăn ôi thiu, bị kiết lỵ, người cao tuổi thiếu men vi sinh, đại tràng bị viêm đi tiêu chảy, mất nước: Hoa cứt lợn thái lát mỏng, sao vàng, nấu với 1 lít nước còn 250ml, uống khi khát, liên tục 5 ngày.
    - Phụ nữ bị gàu, rụng tóc nhiều: 250gr hoa cứt lợn rửa sạch nấu với 10gr hà thủ ô trong 0,5 lít nước. Sau khi sôi 10 phút, gội đầu, xong lau khô, chải tóc với 1 muỗng canh nước cốt chanh. Tóc trơn mượt, bóng và sạch gàu, sảng khoái thần kinh sau vài lần gội.
    Đông y sĩ Kiều Bá Long
    Lần sửa cuối bởi thohong, ngày 06-12-2010 lúc 02:19 PM.

  4. #14
    Avatar của desigvn
    desigvn Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Jul 2010
    Bài viết
    18
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Tác dụng chữa bệnh của tỏi

    Tỏi là gia vị thông dụng song cũng là vị thuốc hiệu nghiệm.Tỏi có tác dụng với bệnh nhiễm khuẩn và bệnh tim mạch là hai bệnh nghiêm trọng với con người.

    Người xưa đã biết

    -Sách Bản thảo Nhật Hoa ghi: tỏi mạnh tỳ, vị và chữa khỏi chứng đau hoắc loạn (đau bụng khan), trừ tà khí, giải được ôn dịch, tan ung nhọt và trừ các nọc độc rắn rết.

    -Sách Vương Sỹ Hùng ghi: Tỏi giáng khí, ấm tỳ vị, tiêu cơm, chóng đói và chữa khỏi các chứng đau bụng, tả, tránh được uế khí, giải các nọc độc và sát trùng, nhưng nếu ăn nhiều thì hại mắt và tổn tinh thần, còn các chứng như âm hư, nóng ruột, thai sản, ban đậu, lên sởi , đau mắt , lở miệng, đau răng, mụn mọc ở lưỡi thì không nên dùng.

    -Trong các nhà thờ ở Tây Tạng ( Trung Quốc) người ta còn lưu giữ được một bản khắc bằng đất sét nung nói về vị thần dược tỏi (cách đây khoảng 4000-5000 năm trước công nguyên ) do đoàn thám hiểm Unesco Liên hiệp quốc phát hiện (1971) . Bản dịch ghi: Tỏi làm sạch cơ thể bằng cách đào thải chất cặn dạng mỡ và vôi. Tăng chuyển hóa nói chung trong cơ thể . Kết quả là tất cả các mạch, đặc biệt là mạch máu trở nên đàn hồi, chính điều đó đã ngăn ngừa được chứng nhồi máu cơ tim, co thắt tim, sơ hóa , liệt; sự tạo thành các khối u , mất hiện tượng váng đầu, hồi phục thị giác . Trong trường hợp điều trị đúng thì cơ thể trẻ lại .

    - Các lực sỹ thời thượng cổ trong các kỳ thi Olympic đều ăn tỏi trước khi thi . Galien – một thầy thuốc vĩ đại của thời đó, đã xem tỏi là loại thuốc “ bách bệnh” của người nông dân.

    Tóm lại: tỏi có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt, tiêu đờm, đầy trướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả, lỵ, thương hàn và trị giun sán. Ngày nay người ta biết 100 g tỏi cho 126 calo, trong khi khoai tây chỉ có 94 calo, trong tỏi còn có các kháng sinh , các vitamin B1,B2, PP…

    Các tác dụng của tỏi.


    -Tỏi với bệnh tim mạch:Các nhà khoa học Mỹ đã tìm thấy chất postaglandil trong nước tỏi, có khả năng hạn chế bệnh nhồi máu cơ tim; postaglandil A. có tác dụng hạ huyết áp. Họ cũng chứng minh khả năng điều trị các bệnh tim mạch; phòng ngừa xơ vữa động mạch, bệnh cao huyết áp và dược tính chống nhiễm khuẩn. Tỏi không những làm hạ huyết áp mà còn điều hòa tỷ lệ cho cholesterol trong máu, tăng cường hoạt động của các hồng cầu vận chuyển ôxy. Nó cản trở sự đầu độc của nicotin và các chất ô nhiễm khác. Những người mắc bệnh cao huyết áp nên ăn mỗi ngày 2-3 tép tỏi để làm giãn cơ mạch máu và tránh được nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ.

    -Tỏi là chất kháng sinh, sát khuẩn nói chung hơi tỏi tiêu diệt có hiệu quả các vi khuẩn nguy hiểm (tả, lỵ, thương hàn…) . Để chữa tả, lỵ trực khuẩn , lỵ amíp dùng tỏi giã nát 20g ngâm vào 100ml nước nguội, lắc nhiều lần rồi lọc bỏ bã; dịch thu được uống mỗi lần 20ml, 2-3 lần/ngày. Với tả và lỵ trực khuẩn có thể ngừng tiêu chảy sau 3-4 giờ, còn đối với lỵ amíp thời gian lâu hơn.

    Ngày nay người ta biết trong tỏi có một glucosid chứa lưu huỳnh, một chất bay hơi hỗn hợp sulfur và oxit ally gần như nguyên chất. Hoạt chất kháng khuẩn là allicin và garcin. Chất allicin có thể kết hợp với B1 để tạo thành hợp chất allithiamin rất ổn định và có hiệu quả cao, còn chất garcin lại có thể dễ dàng hấp thu qua thành ruột để di tới dịch não tủy. Đã ứng dụng có kết quả trong nhiễm khuẩn shiga (một loại vi khuẩn lỵ nguy hiểm) hoặc các bệnh kí sinh trùng như giun kim, giun đũa, giun tóc.

    -Tỏi với bệnh cảm cúm và viêm cấp tính đường hô hấp.Dùng tỏi nghiền nát 1 phần, nước muối sinh lí 8,7 phần, novocain 0,3 phần trộn đều, lọc lấy nước trong để nhỏ mũi và cho uống.

    Thuốc xông: rượu tỏi 20% lấy 8,5ml; tinh dầu tràm 5ml, trộn đều, bảo quản trong lọ kín. Khi dùng lấy 5ml thuốc cho vào một bình nước nóng khuấy đều rồi chùm chăn trong 15-20 phút, khi thấy mồ hôi thoát ra thì thôi, xông như vậy nhẹ người, giảm sốt đôi khi bệnh cũng khỏi luôn.

    -Tỏi chữa mụn nhọt, chín mé và các vết thương nhiễm khuẩn lấy một củ tỏi bóc vỏ, vôi trắng một cục bằng hạt lạc, hai thứ giã nhuyễn, bôi lên nhọt vài lần thì nhọt tan. Dung dịch tỏi bôi lên các vết thương, vết bỏng nhiễm khuẩn, nhận thấy vết thương, vết bỏng sạch vi khuẩn sau 5-6 ngày.

    -Tỏi có tác dụng tẩy giun nhất là giun kim cao ether tỏi 0,1g, cồn bạch đàn 10 giọt, bơ ca cao vừa đủ 2g dùng cho trẻ em dưới 10 tuổi để trị giun kim ở trực tràng và sát trùng toàn bộ đường ruột . Hoạt chất allicin của tỏi phối hợp với a ngùy để trị giun kim . Đã chứng minh viên tỏi bọc đường cho trẻ uống trị kí sinh trùng, hoàn toàn không độc, sử dụng cho mọi lứa tuổi, không cần nhịn ăn.

    Người ta còn dùng nước tỏi điều trị viêm âm đạo trùng roi, rịt vào gan bàn chân chữa chảy máu cam. Tỏi còn có tác dụng với người bệnh tiếu đường, người đau lưng, viêm khớp.


    nguồn: suckhoenct
    Lần sửa cuối bởi thohong, ngày 06-12-2010 lúc 02:20 PM.

  5. #15
    Avatar của desigvn
    desigvn Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Jul 2010
    Bài viết
    18
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Kinh giới – Vừa là rau gia vị vừa là cây thuốc

    Kinh giới vừa là rau gia vị vừa là cây thuốc dùng làm thuốc chữa bệnh thì lấy cả cây trừ rễ. Khi cây kinh giới bắt đầu nở hoa, nhổ cả cây, cắt bỏ rễ, đem phơi hoặc sấy khô.

    Toàn kinh giới
    Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.
    Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.
    Chữa cảm cúm, sốt, đau nhức: lấy toàn kinh giới 5g phối hợp với lá tía tô 3g, cam thảo đất 3g, sài hồ nam hoặc cúc tần 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày; kết hợp lấy lá kinh giới tươi 50g, giã nát với gừng sống 10g, gói vào vải sạch, đánh dọc sống lưng. Hoặc toàn kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền, mỗi vị 5g; phơi khô, tán bột, rây mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g.
    Chữa cảm hàn ở trẻ em: toàn kinh giới, tía tô, hoắc hung, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.
    Chữa ban chẩn: toàn kinh giới, lá dâu, mỗi vị 6g; lá bạc hà, kim ngân, sài đất, mỗi vị 4g; sắc uống ngày một thang.
    Chữa chóng mặt, hoa mắt, nghẹt mũi, mắt đỏ: toàn kinh giới, cúc hoa, xuyên khung, cam thảo, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, tế tân, bạch cương tàm. Các vị lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g với nước ấm, sau bữa ăn.
    Chữa sưng vú, mụn nhọt. toàn kinh giới, thương nhĩ tử, vòi voi, liên kiều, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, cỏ mần trầu, hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; bồ công anh 8g. Tất cả sắc uống làm 2 lần trong ngày.
    Chữa ho, mất tiếng: toàn kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.
    Kinh giới tuệ
    Tên thuốc trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian là những cụm hoa kinh giới (hoa đã nở, bông còn xanh) kèm theo 1 – 2 lá ngọn. Dược liệu có dạng bông lệch (các hoa đều mọc hướng về một bên) dài 6 – 10cm, đường kính 0,5 – 0,6cm, tràng hoa phần lớn đã rụng, chỉ còn đài hoa màu lục hoặc tím nhạt, trong chứa hạt màu nâu đen. Chất nhẹ, giòn, dễ gẫy, vị hơi chát, cay và mát, mùi thơm. Thứ màu tím nhạt, cuống nhỏ, bông to nhiều hoa là loại tốt.
    Tùy theo cách chế biến mà tính vị, tác dụng của kinh giới tuệ thể hiện cụ thể như sau:
    Kinh giới tuệ để sống: Có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, giải độc, tiêu viêm.
    Chữa cảm lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi: kinh giới tuệ sống và rễ bạch chỉ với lượng bằng nhau phơi khô, tán bột; ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 – 8g với nước chè nóng cho ra mồ hôi.
    Chữa cảm, sốt, cúm: kinh giới tuệ sống, tía tô, hương nhu, ngải cứu, hoắc hương, lượng mỗi vị 20g, sắc với nước nhiều lần, rồi cô thành cao đặc, luyện với bột nếp làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 2 lần, người lớn mỗi lần 7 – 8 viên với nước sắc lá tre; trẻ em tùy tuổi, 2 – 4 viên. Thuốc còn chữa kiết lỵ (chiêu thuốc với nước sắc lá mơ lông).
    Chữa mụn nhọt: kinh giới tuệ sống 12g; mã đề, bồ công anh, kim ngân, thổ phục linh, ké đầu ngựa, cam thảo nam, mỗi thứ 10g; thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
    Chữa viêm họng, khản tiếng: Kinh giới tuệ sống 12g, nhân hạt gai dầu 12g, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật làm viên, ngâm làm nhiều lần trong ngày.
    Chữa trĩ: kinh giới tuệ sống, hoàng bá, ngũ bội tử, mỗi vị 12g; phèn phi 4g; sắc lấy 300 – 400ml nước, dùng ngâm hậu môn hằng ngày.
    Phòng chống bệnh sởi: kinh giới tuệ sống, vỏ quả bưởi, thanh hoa, mỗi vị 20g, đặt lên than đang đỏ hồng, dùng khói xông khắp người trong 15 phút.
    Kinh giới tuệ sao vàng: Dùng riêng, tán bột mịn, uống ngày hai lần, mỗi lần 6 – 8g chữa cảm, cúm, sốt, nhức đầu, viêm họng. Hoặc phối hợp với tía tô, lượng mỗi thứ 20g, sắc nước uống, rồi nằm nghỉ, đắp kín cho ra mồ hôi.
    Kinh giới tuệ sao đen (dược liệu sống đem rang nhỏ lửa đến khi có màu đen sém, không để cháy thành than). Có tác dụng cầm máu. Dùng riêng, mỗi ngày 12g, dưới dạng nước sắc hoặc thuốc bột. Dùng phối hợp, chữa băng huyết, rong huyết: kinh giới tuệ sao đen, gương sen (sao cháy), ngải cứu (sao đen), cỏ nhọ nồi (sao qua), bách thảo sương, mỗi thứ 12g; rau má 20g; sắc uống ngày một thang.
    Chữa tiêu chảy ra máu: kinh giới tuệ sao đen và lá trắc bá sao sém, với lượng mỗi thứ 15 – 20g, sắc uống trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.
    Chữa kinh nguyệt ra nhiều không dứt: kinh giới tuệ sao đen 12g, bồ hóng 8g, sao cho hết khói; trộn đều, uống với nước chè làm một lần trong ngày.

    Nguồn: suckhoenct
    Lần sửa cuối bởi thohong, ngày 06-12-2010 lúc 02:21 PM.

  6. #16
    Avatar của desigvn
    desigvn Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Jul 2010
    Bài viết
    18
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Cây đại bi và công dụng chữa bệnh

    Đại bi hay còn gọi là Ngải nạp hương, Từ bi, Đại ngãi … Tên khoa học Blumea balsamifera (L) DC, họ Cúc ASTERACEAE

    Đại bi là loại cây nhỏ, cao 1 – 2m, thân có nhiều khía rãnh chạy dọc, nhiều lông, trên ngọn có mang nhiều cành. Lá mọc so le, hình bầu dục, mũi mác, dài 15 – 20cm, rộng 5 – 8cm, mặt trên lá có lông, màu xanh thẫm; mặt dưới lá trắng nhạt, mép lá gần như nguyên hay xẻ thành răng cưa; gốc lá thường chằng chịt thành mạng lưới, có 2 – 4 hoặc 6 thùng nhỏ. Toàn cây có lông trắng mềm, có mùi thơm dễ chịu của Long não (Băng phiến); cụm hoa màu vàng, mọc thành chùy ngủ ở kẽ lá hay đầu cành. Quả bé, có 2 cành dài 1mm mang chùm lông ở đỉnh. Cây Đại bi thường mọc hoang hoặc mọc thành bãi rộng ở vùng đồng bằng hay đất đốt phá, chịu hạn tốt, ra hoa kết quả hằng năm; quả phát tán được là nhờ có chùm lông ở đầu.

    Bộ phận dùng là lá và Mai hoa băng phiến (Borneol) cất từ lá. Lá thu hái quanh năm, chứa 0,2 – 1,88 tinh dầu và borneol. Tinh dầu chứa D-borneol; I-campho; cineola; limonen; axit palmitic; axit myristic; sesquiterpen ancol. Mai hoa băng phiến điều trị bên ngoài có tác dụng giảm đau, tiêu viêm.

    Theo tài liệu Đông y cổ: Mai hoa băng phiến vị đắng, cay, tính hơi hàn, vào ba kinh tâm, phế, can. Có tác dụng thông cùng, tán uất hoả, tiêu thuỷ, minh mục, dùng chữa cấm phòng, cấm khẩu, đau bụng, đầy bụng ăn, chậm tiêu, đau ngực, ho lâu ngày có đờm, đau mắt, đau họng. Liều uống từ 1 – 2g trong ngày.

    Lá Đại bi được dùng kèm thuốc điều trị cảm sốt, cúm, ứ mồ hôi… nên dùng phối hợp dùng nhiều loại lá như: Đại bi, lá Bưởi, lá Chanh, lá Xả (mỗi thứ một nắm cho vào nồi đổ ngập nước đun sôi để xông, đã xông phải chọn nơi kín gió trước, trong và sau khi xông phải lau khô mồ hôi… có thể xông từ 2 – 3 lần trong 1 tuần khi dứt cảm cúm có sốt nhẹ).

    Chữa đầy bụng, ăn chậm tiêu, ho có đờm: Lá Đại bi tươi 20 – 30g sắc uống trong ngày; ngoài ra còn dùng lá Đại bi nấu nước, ngâm rửa vết lở, ngứa tại chỗ, vết thương sưng đau.

    Chữa viêm họng, viêm amydal mạn tính: Băng phiến 1g, Khô phàn (Phèn chua phi khô) 2,5g; Hoàng bá đốt ra than 2g, Đăng tâm thảo đốt thành than 3g, tất cả tán nhỏ, ngày dùng 3 – 4g ngậm rà vùng họng.

    nguồn: suckhoenct
    Lần sửa cuối bởi thohong, ngày 06-12-2010 lúc 02:21 PM.

  7. #17
    Avatar của mengobi
    mengobi Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Jan 2011
    Bài viết
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Trích dẫn Gửi bởi Lucky368 Xem bài viết
    Cách chữa loét miệng bằng đông y


    Cây bọ mẩy (Clerodendron cyrtophyllum).

    KTNT - “Loét miệng” là trong khoang miệng xuất hiện một hay nhiều vết loét. Dân gian hay gọi nôm na là “nhiệt miệng”, vì bệnh luôn kèm theo nóng rát và đau. Hiện nay, y văn thế giới thường phân biệt 2 loại loét miệng: “Loét mụn rộp” (cold sores) và “loét ap-tơ” (aphthous ulcer). Loét mụn rộp (bào chẩn, herpes) phát sinh do nhiễm phải loại virus có tên herpes simplex, tổn thương luôn bắt đầu xuất hiện ở môi, có thể kéo dài trên 2 tuần cho đến vài tháng và thường để lại sẹo sau khi lành. Ở đây chỉ nói về loét miệng aptơ, loại bệnh hay gặp nhất ở niêm mạc miệng.



    Nguyên nhân gây loét miệng
    Loét miệng ap - tơ khởi phát với cảm giác ngứa và bỏng rát ở niêm mạc trong má, hay ở bờ hoặc mặt dưới lưỡi, lợi, môi, sàn miệng, vòm khẩu cái... Sau đó hình thành một hay vài vết loét, nông hoặc sâu, ranh giới rõ rệt, niêm mạc chung quanh vết loét sưng tấy đỏ. Đau là triệu chứng điển hình và luôn có, nên thường gây khó chịu trong khi nói và nhai thức ăn, nhất là khi ăn những thức ăn cay, mặn. Bệnh thường kéo dài trong vòng từ 7-10 ngày rồi tự khỏi, khi khỏi thường không để lại sẹo, nhưng rất hay tái phát, ảnh hưởng không nhỏ tới sinh hoạt, cũng như công việc.

    Y học hiện tại vẫn chưa xác định được rõ, các nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh loét miệng. Tuy nhiên, có một số nhân tố được coi là nguyên nhân gây bệnh, như tình trạng thiếu dinh dưỡng hoặc dinh dưỡng không đúng cách, dẫn đến tình trạng thiếu vitamin C, PP, B6, B12, kẽm và acid folic. Do rối loạn nội tiết ở phụ nữ, khi hành kinh, mang thai, ở độ tuổi mãn kinh; Nhiễm khuẩn hay virus khi niêm mạc miệng bị tổn thương do xương đâm, răng cắn vào; Do các bệnh tiêu hóa, do di truyền, thần kinh căng thẳng, một số loại thuốc... Phương pháp chữa trị chủ yếu là giảm đau, vì là triệu chứng khó chịu nhất. Ngoài ra, còn sử dụng một số loại nước súc miệng, thuốc mỡ bôi tại chỗ và một số thuốc tác dụng toàn thân.
    Bệnh loét miệng, trong Đông y gọi là “Khẩu sang”. Bệnh danh “Khẩu sang” xuất hiện đầu tiên trong Nội kinh, bộ sách lý luận kinh điển cổ nhất của Đông y học cách nay hơn 2.000 năm. Trong các y thư cổ đời sau, bệnh còn được đề cập với những tên khác, như “Khẩu dương”, “Khẩu phá”, “Khẩu cam”, “Khẩu vẫn sang”, “Nha sang”...

    Theo quan niệm của Đông y học, “Khẩu sang” tuy là dạng bệnh biến cục bộ (chỉ phát sinh trong khoang miệng), nhưng có liên quan tới hoạt động của các tạng, phủ trong cơ thể, nhất là 2 tạng tâm và tỳ. “Tâm tỳ tích nhiệt” (nhiệt tích đọng tâm và tỳ) thường gây ra loét miệng, vì tâm thông với lưỡi (khai khiếu) và tỳ thông với miệng. Ngoài ra, tình trạng bệnh lý mà Đông y gọi là “Âm hư hỏa vượng” (âm dịch hư tổn, không đủ sức cân bằng, kiềm chế dương khí), khiến “hư hỏa” bốc lên trên, cũng thường hay gây ra loét miệng.


    Biến chứng luận trị
    Tâm tỳ tích nhiệt
    Biểu hiện (chứng trạng): trên niêm mạc miệng xuất hiện tương đối nhiều vết loét, kích thước khác nhau. Trên mặt vết loét có chất dịch phân tiết màu vàng nhạt, niêm mạc quanh vết loét sung huyết đỏ tươi, kèm theo nóng rát, đau nhức. Thường kèm theo cảm giác bồn chồn, mất ngủ, miệng hôi, khát nước, đại tiện táo bón, tiểu tiện vàng sẻn. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch sác (nhanh - trên 90 lần/phút).
    Phép chữa: thanh nhiệt giải độc.


    Bài thuốc thường dùng:
    Mao lô huyền sâm ẩm: bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 30g, lô căn (rễ lau) 30g, huyền sâm 10g. Thêm 1 lít nước, sắc lấy 450ml, chia ra nhiều lần, uống thay trà trong ngày. Liên tục 3 - 4 ngày. Thích ứng với những trường hợp bệnh phát tương đối nhẹ.

    Cầm liên đạo xích thang: hoàng liên 6g, chi tử (dành dành) 10g, hoàng cầm 10g, sinh địa hoàng 15g, mạch môn đông 10g, liên tử tâm (tâm sen) 5g, mộc thông 6g, trúc diệp 5g, sinh cam thảo 6g. Thêm 1 lít nước, sắc lấy 450ml, chia ra 3 lần uống sáng, trưa, chiều, lúc đói bụng. Mỗi ngày 1 thang. Liên tục 4-5 ngày. Dùng trong trường hợp bệnh phát tương đối nặng.

    Món ăn - thuốc: củ cải tươi 1.000g, ngó sen tươi 500g. 2 thứ rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, ngậm và uống dần trong ngày.


    Âm hư hỏa vượng
    Biểu hiện: miệng đau rát, số vết loét tương đối ít, thường chỉ có 1-2 vết, nhưng dễ tái phát, hoặc vết này khỏi lại sinh vết khác, triền miên không dứt. Vết loét trắng nhợt, niêm mạc chung quanh vết loét chỉ hơi sưng, đỏ nhạt hoặc không đỏ. Chất lưỡi đỏ, khô; rêu lưỡi ít; Mạch tế sác (nhỏ, nhanh).

    Phép chữa: tư âm giáng hỏa (dưỡng âm hạ hỏa).


    Bài thuốc thường dùng:

    Tri bá địa hoàng thang gia giảm: sinh địa hoàng 10g, thục địa hoàng 10g, sơn thù 6g, sơn dược 15g, huyền sâm 15g, mạch môn đông 15g, bạch thược 15g, đương quy 12g, xuyên khung 6g, hoàng bá 10g, tri mẫu 10g, đan bì 12g, trạch tả 10g. Thêm 1,2 lít nước, sắc lấy 450ml, chia ra 3 lần uống sáng sớm, trưa, chiều; lúc đói bụng. Mỗi ngày 1 thang, liên tục 4-5 ngày.

    Địa hoàng địa cốt bì thang: sinh địa hoàng 15g, tri mẫu 6g, hoàng bá 6g, huyền sâm 10g, mạch môn 10g, sinh sơn dược 10g, đan bì 6g, sinh mẫu lệ (sắc trước) 20g, trạch tả 10g, địa cốt bì 10g, nữ trinh tử 10g. Thêm 1,2 lít nước, mẫu lệ sắc trước khoảng 20 phút, sau cho các vị thuốc còn lại vào sắc tiếp. Sắc lấy 400ml, chia ra 2 lần uống, sáng sớm và chiều tối, lúc đói bụng. Ngày uống 1 thang, liên tục 4-5 ngày. Trà thuốc: sinh địa 9g, tâm sen 6g, cam thảo 6g, sắc nước uống thay trà trong ngày.


    Nghiệm phương
    Dùng lá dạ cẩm: hái một nắm lá dạ cẩm non, rửa sạch, hong khô, lấy từng nhúm nhai nát, ngậm một lúc, nuốt chút nước cốt rồi nhổ bã đi, ngày ngậm 3-4 lần; Hoặc giã nát lá, vắt lấy nước cốt ngậm, uống dần. Một số địa phương, dân gian thường dùng lá dạ cẩm nấu với gạo nếp thành xôi ăn; Xôi có màu tím đẹp, lại có tác dụng chữa viêm loét miệng lưỡi và viêm họng.

    Dùng lá bọ mẩy: hái một nắm lá bánh tẻ từ cây bọ mẩy, rửa sạch, hong khô, giã nát, cho vào một cái bát, đổ ngập mật ong, ngâm khoảng 30 phút, dùng để ngậm dần, mỗi lần ngậm khoảng 5-10 phút, có thể nuốt nước, sau nhổ bỏ bã.

    Dùng kê nội kim (màng mề gà):
    kê nội kim thiêu tồn tính (cho vào chảo hoặc nồi gang rang đến khi bên ngoài cháy đen, nhưng bên trong vẫn giữ nguyên chất thuốc), nghiền mịn, ngày bôi vào chỗ vết loét 3 lần. Kết quả thu được: toàn bộ bệnh nhân sau khi bôi từ 2- 4 lần thì hết đau, bôi từ 3-10 ngày thì bệnh khỏi hoàn toàn.


    Dùng bột ngô thù du: ngô thù du 12g, nghiền mịn, trộn với giấm thành bột nhão, trước khi nằm ngủ đắp lên huyệt dũng tuyền (gan bàn chân) ở 2 bàn chân, dùng ni lông phủ lên, sau dùng băng dính cố định lại, qua 24 giờ thì gỡ ra, làm liên tục 3 ngày.


    Nguồn: Sức khoẻ và đời sống
    Mình thấy có người nói, lấy mật ong đánh cho hết cái vết nhiệt màu trắng sẽ nhanh khỏi, ko bết có đúng ko?

  8. #18
    Avatar của soncowboy
    soncowboy Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    May 2011
    Bài viết
    40
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Nhiều bài thuốc hay thật đấy, cảm ơn mọi người đã chia sẻ nha!!!!



    Lần sửa cuối bởi thohong, ngày 10-05-2011 lúc 10:19 AM.

  9. #19
    Avatar của bibibi
    bibibi Đang Ngoại tuyến Răng sữa
    Ngày tham gia
    Dec 2010
    Bài viết
    177
    Thanks
    3
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    cho em học ké kinh nghiệm với ạ! Thanks cả nhà

  10. #20
    Avatar của nhadepvina
    nhadepvina Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    May 2011
    Bài viết
    33
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Thông tin bổ ích. tks
    Bạn có nhu cầu:
    - Cần Bán nhà
    - Cho Thuê nhà
    - Cần Mua nhà
    - Cần Thuê nhà

    Tất cả Miễn Phí trên
    24NHA.com

Trang 2 của 5 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối

SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.