Dính liền sớm khớp sọ - hội chứng crouzon và các hội chứng khác

Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Avatar của Dulichchuabenh.vn
    Dulichchuabenh.vn Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Sep 2009
    Bài viết
    5
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Exclamation Dính liền sớm khớp sọ - hội chứng crouzon và các hội chứng khác

    DÍNH LIỀN SỚM KHỚP SỌ

    Dính liền sớm khớp sọ (Craniosynostosis) là sự kết hợp sớm hay dính liền sớm của các đường khớp sọ. Có thể chỉ dính một đường khớp duy nhất chẳng hạn như đường khớp trán (Tật sọ hình tam giác - trigonocephaly), đường trục dọc giữa (Tật đầu hình thuyền - scaphocephaly), đường khớp trán đỉnh một bên (Tật đầu nghiêng - plagiocephaly), và đường khớp trán đỉnh hai bên (tật đầu ngắn - brachycephaly) hoặc cũng có thể nhiều đường khớp cùng lúc. Nó làm cho đầu phát triển bất thường và do đó phải chỉnh lại vòm đầu và các biến dạng kèm theo của hộp sọ.

    Các hội chứng dính liền sớm khớp sọ là do dính sớm nhiều đường khớp sọ gây ra một loạt các dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng về hình dạng và sự phát triển bất thường của đầu và mặt. Các hội chứng dính liền sớm khớp sọ điển hình là hội chứng Aperts, Crouzons, Pfeiffer, Carpenter, Saethre-Chotzen, và hội chứng dị thường Kleeblattschadel (liền tất cả các khớp sọ). Trong các hội chứng này, đầu và mặt của trẻ phát triển bất thường và do đó phải phẫu thuật sửa chữa nhiều lần để có hiệu quả tối ưu về mặt chức năng và thẩm mỹ.

    Hội chứng Crouzon

    Hội chứng Crouzon, hay rối loạn phát triển xương sọ mặt, là biến dạng hiếm gặp, gần giống hội chứng Apert. Mặc dù nhiều thiếu hụt thể chất có trong hội chứng apert không có ở bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon, cả hai hội chứng này đều có nguyên nhân di truyền. Trong số 10.000 trẻ sinh ra mỗi ngày tại Hoa Kỳ, xác suất có một trẻ mắc hội chứng Crouzon.

    Đặc trưng của Hội chứng Crouzon


    Bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon có 3 điểm đặc trưng:
    • Dính liền sớm khớp sọ thường xảy ra ở khớp trán đỉnh và khớp đỉnh chẩm, đôi khi ở trục đứng dọc
    • Phần giữa mặt kém phát triển với xương gò má thấp, hoặc lồi mắt
    • Lồi mắt biểu hiện nhãn cầu lồi ra ngoài do hốc mắt rất nông. Bệnh nhân có thể bị lác mắt và/hoặc hai mắt xa nhau.

    Một số dấu hiệu thường gặp khác là các rối loạn thị giác do các cơ chuyển động mắt mất cân đối và khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Khả năng phát triển tinh thần của bệnh nhân thường ở trong mức giới hạn bình thường, tuy nhiên, có một số trường hợp báo cáo có chậm phát triển tinh thần.

    Nguyên nhân của hội chứng Crouzon

    Nguyên nhân của hội chứng Crouzon cũng giống như nhiều hội chứng dính liền sớm khớp sọ liên quan đến việc biến đổi gen. Nó xảy ra đơn lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho những đứa con tiếp theo. Con của những bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon có khoảng 50-60% di truyền hội chứng Crouzon do đặc tính trội của gen này.

    Điều trị hội chứng Crouzon

    Trẻ em mắc hội chứng Crouzon thường phát triển trí tuệ bình thường đôi khi thấy có giảm trí tuệ. Bởi vì phần giữa mặt kém phát triển và vòm miệng nhô cao, thường gặp tắc nghẽn đường thở ở mũi. Nói và phát âm có thể không bình thường do mũi nhỏ, vòm miệng nhô cao, hoặc khớp cắn lệch. Có thể có khe hở vòm miệng ở hội chứng Crouzon và có thể sửa chữa như các khe hở vòm miệng khác. Cũng giống như các bệnh nhân có khe hở vòm miệng khác, có thể khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Với điều trị đúng cách thì sẽ cải thiện được vấn đề này.

    Phẫu thuật nhiều giai đoạn là phương pháp điều trị chung đối với bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon. Nó được tiến hành trong năm đầu đời để giải phóng các đường khớp sọ cho phép có đủ thể tích hộp sọ để não phát triển và nở rộng một cách bình thường. Cần tái cấu trúc hình dạng hộp sọ nhiều khi trẻ lớn dần để có kết quả tốt nhất. Ngoài ra, tùy vào mức độ biến dạng sọ, quá trình phẫu thuật có thể tiến hành một hoặc hai giai đoạn. Nều cần có thể phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích hốc mắt và làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp và tạo nên bộ mặt nhìn bình thường hơn.


    Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân 5 tuổi mắc hội chứng Crouzon với lồi mắt và kém phát triển phần giữa mặt. Ảnh nhìn thẳng 3 năm sau phẫu thuật tạo hình mở xương theo phương pháp Lefort III. Ảnh nhìn nghiêng trước và sau phẫu thuật.

    Hội chứng Apert

    Hội chứng Apert là chứng sọ mặt tương đối hiếm gặp. Hội chứng Apert xảy ra với xác suất một phần 160.000 trẻ sinh ra. Hội chứng Apert có thể di truyền từ người lớn mắc bệnh với xác suất 50%, hoặc có thể co đột biến tự phát.


    Đặc trưng của Hội chứng Apert


    Hội chứng Apert đã được Frederick Apert mô tả vào năm 1942 và có các điểm đặc trưng:
    • Sọ hình tháp do dính sớm khớp sọ
    • Kém phát triển phần giữa mặt dẫn đến xương gò má thấp và lồi mắt
    • Khớp cắn lệch
    • Các bất thường chi chẳng hạn như dính các ngón giữa của tay và chân

    Một số đặc điểm khác thường thấy trong hội chứng Apert là các rối loạn thị giác do các cơ chuyển động mắt mất cân đối và khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần và mụn trứng cá ở nhiều mức độ. Có vài trường hợp suy giảm trí tuệ nhưng cũng có bệnh nhân có trí tuệ bình thường. Trẻ có hội chứng Apert có dính xương của các ngón tay và chân. Có thể gặp các dị dạng tim và tiêu hóa ở hội chứng Apert mà không gặp ở các hội chứng dính sớm khớp sọ khác.

    Nguyên nhân gây ra hội chứng Apert

    Nguyên nhân căn bản gây ta hội chứng Apert có liên quan đến biến đổi gen đơn độc của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi. Nó xảy ra đơn lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Hầu hết các trường hợp trong hội chứng Apert, biến dạng xảy ra do bất thường gen mà không tìm ra nguyên nhân cụ thể. Thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho những đứa con tiếp theo. Con của những bệnh nhân mắc hội chứng Apert có khoảng 50-60% di truyền hội chứng Apert.

    Điều trị hội chứng Apert

    Trẻ mắc hội chứng Apert có thể phát âm bất thường. Thường không có âm mũi do phần giữa mặt kém phát triển, mũi nhỏ, và vòm miệng mềm rất dài. Nếu có khe hở vòm miệng, bệnh nhân mắc hội chứng Apert cũng có thể phát âm không có âm mũi. Phát âm thường không rõ do khớp cắn lệch và vòm miệng nhô cao. Nghe kém hoặc chậm phát triển toàn thể cũng có thể ảnh hưởng đến phát triển ngôn ngữ và khả năng phát âm. Phẫu thuật nhiều giai đoạn là kế hoạch điều trị đối với bệnh nhân mắc hội chứng Apert. Thời điểm tốt nhất để giải phóng các đường khớp sọ dính trong khoảng từ ba đến sáu tháng tuổi; có thể thực hiện tới 18 tháng tuổi. Phẫu thuật sớm cho phép não trẻ có không gian để phát triển. Ngoài việc giải phóng các đường khớp sọ, xương trán biến dạng và các xương khác sẽ được tái định vị để sửa chữa lồi mắt và dị dạng phần trên của mặt. Bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ và bác sỹ ngoại thần kinh sẽ kết hợp mổ để có hiệu quả cao nhất. Nếu phần giữa mặt và phần trên hàm không phát triển đúng mức thì nên phẫu thuật tiếp khi trẻ lớn. Dính tay thường được tách trong những năm đầu đời để tay thẳng hơn và chức năng tốt hơn. Đôi khi, có thể phải phẫu thuật nhiều lần để trẻ có đầy đủ chức năng hoạt động.


    Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân 8 tuổi sau mổ tái cấu trúc vòm sọ lần đầu ở 3 tháng tuổi. Ảnh nhìn thẳng 2 năm sau phẫu thuật mở rộng vòm hộp sọ lần hai và phương pháp Lefort III. Ảnh nhìn nghiêng trước phẫu thuật cho thấy trán thụt vào và lồi mắt cũng như tăng áp lực nội sọ. Ảnh nhìn nghiêng 2 năm sau phẫu thuật chỉnh hình.


    Hội chứng Pfeiffer

    Hội chứng Pfeiffer, cũng như các hội chứng dính liền sớm khớp sọ khác, do nguyên nhân đột biến gen. Biểu hiện hội chứng Pfeiffer cũng giống như các triệu chứng của hội chứng Crouzon và bao gồm ngón chân cái và ngón tay cái to.

    Đặc trưng của Hội chứng Pfeiffer


    Bệnh nhân mắc hội chứng Pfeiffer có các bất thường sau:
    • Dính liền sớm khớp sọ thường xảy ra ở khớp trán đỉnh và khớp đỉnh chẩm, đôi khi ở trục đứng dọc
    • Phần giữa mặt kém phát triển với xương gò má thấp, hoặc lồi mắt
    • Lồi mắt biểu hiện nhãn cầu lồi ra ngoài do hốc mắt rất nông. Bệnh nhân có thể bị lác mắt và/hoặc hai mắt xa nhau.
    • Ngón chân cái và ngón tay cái to.

    Một số dấu hiệu thường gặp khác là các rối loạn thị giác do các cơ chuyển động mắt mất cân đối và khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Khả năng phát triển tinh thần của bệnh nhân thường ở trong mức giới hạn bình thường, tuy nhiên, có một số trường hợp báo cáo có chậm phát triển tinh thần.

    Nguyên nhân của hội chứng Pfeiffer

    Nguyên nhân của hội chứng Pfeiffer cũng giống như nhiều hội chứng dính liền sớm khớp sọ liên quan đến việc biến đổi gen. Hầu hếtt các trường hợp là đơn lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho những đứa con tiếp theo. Con của những bệnh nhân mắc hội chứng Pfeiffer có khoảng 50-60% di truyền hội chứng Pfeiffer do đặc tính trội của gen này.

    Điều trị hội chứng Pfeiffer

    Trẻ em mắc hội chứng Pfeiffer thường phát triển trí tuệ bình thường đôi khi thấy có giảm trí tuệ. Bởi vì phần giữa mặt kém phát triển và vòm miệng nhô cao, thường gặp tắc nghẽn đường thở ở mũi. Nói và phát âm có thể không bình thường do mũi nhỏ, vòm miệng nhô cao, hoặc khớp cắn lệch. Có thể có khe hở vòm miệng ở hội chứng Pfeiffer và có thể sửa chữa như các khe hở vòm miệng khác. Cũng giống như các bệnh nhân có khe hở vòm miệng khác, có thể khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Với điều trị đúng cách thì sẽ cải thiện được vấn đề này.

    Phẫu thuật nhiều giai đoạn là phương pháp điều trị chung đối với bệnh nhân mắc hội chứng Pfeiffer. Nó được tiến hành trong năm đầu đời để giải phóng các đường khớp sọ cho phép có đủ thể tích hộp sọ để não phát triển và nở rộng một cách bình thường. Cần tái cấu trúc hình dạng hộp sọ nhiều khi trẻ lớn. Nều cần có thể phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích hốc mắt và làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp và tạo nên bộ mặt nhìn bình thường hơn. Mặc dù có dị dạng lớn tay và chân ở bênh nhân mắc hội chứng Pfeiffer nhưng thông thường chức năng hoạt động đầy đủ co đó không cần phẫu thuật chỉnh hình tay.


    Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân 5 tuổi mắc hội chứng Pfeiffer. Ảnh nhìn thẳng sau phẫu thuật tái cấu trúc sọ trán và phương pháp Lefort III. Ảnh nhìn nghiêng trước và sau phẫu thuật.


    Hội chứng Saethre-Chotzen

    Hội chứng Saethre-Chotzen là dị dang hiếm gặp gần giống hội chứng Crouzon và cả hai hội chứng đều co nguyên nhân di truyền.

    Đặc trưng của Hội chứng Saethre-Chotzen


    Bệnh nhân mắc hội chứng Saethre-Chotzen có đặc điểm sau:
    • Dính liền sớm khớp sọ thường xảy ra ở khớp trán đỉnh và khớp đỉnh chẩm, đôi khi ở trục đứng dọc
    • Phần giữa mặt kém phát triển với xương gò má thấp, hoặc lồi mắt
    • Lồi mắt biểu hiện nhãn cầu lồi ra ngoài do hốc mắt rất nông. Bệnh nhân có thể bị lác mắt và/hoặc hai mắt xa nhau.
    • Tóc mọc thấp
    • Sụp mi trên hai bên bẩm sinh hoặc mi trên rủ

    Một số dấu hiệu thường gặp khác là các rối loạn thị giác do các cơ chuyển động mắt mất cân đối hoặc thiếu cơ vận động thường được phẫu thuật sửa chữa. Sụp mi trên hai bên thường thấy ở các bệnh nhân này. Có thể khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Khả năng phát triển tinh thần của bệnh nhân thường ở trong mức giới hạn bình thường, tuy nhiên, có một số trường hợp báo cáo có chậm phát triển tinh thần.

    Nguyên nhân của hội chứng Saethre-Chotzen

    Nguyên nhân của hội chứng Saethre-Chotzen cũng giống như nhiều hội chứng dính liền sớm khớp sọ liên quan đến việc biến đổi gen. Hầu hếtt các trường hợp là đơn lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho những đứa con tiếp theo. Con của những bệnh nhân mắc hội chứng Saethre-Chotzen có khoảng 50-60% di truyền hội chứng do đặc tính trội của gen này.

    Điều trị hội chứng Saethre-Chotzen

    Trẻ em mắc hội chứng Saethre-Chotzen thường phát triển trí tuệ bình thường đôi khi thấy có giảm trí tuệ. Bởi vì phần giữa mặt kém phát triển và vòm miệng nhô cao, thường gặp tắc nghẽn đường thở ở mũi. Nói và phát âm có thể không bình thường do mũi nhỏ, vòm miệng nhô cao, hoặc khớp cắn lệch. Có thể có khe hở vòm miệng ở hội chứng này và có thể sửa chữa như các khe hở vòm miệng khác. Cũng giống như các bệnh nhân có khe hở vòm miệng khác, có thể khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Những bệnh nhân này cũng có thể có vấn đề về thị lực. Sụp mi trên và mất cân bằng co thiếu một số cơ mắt có thể làm vấn đề này nặng hơn. Phẫu thuật thường được dùng để chữa dị dạng này. Với điều trị đúng cách thì sẽ cải thiện được vấn đề này.

    Phẫu thuật nhiều giai đoạn là phương pháp điều trị chung đối với bệnh nhân mắc hội chứng Saethre-Chotzen. Nó được tiến hành trong năm đầu đời để giải phóng các đường khớp sọ cho phép có đủ thể tích hộp sọ để não phát triển và nở rộng một cách bình thường. Cần tái cấu trúc hình dạng hộp sọ nhiều khi trẻ lớn. Ngoài ra, nều cần có thể phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích hốc mắt và làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp. Phẫu thuật cơ mắt thường được tiến hành bởi bác sỹ mắt nhi để sữa chữa sự mất cân bằng trong cấu trúc cơ mắt cũng như sụp mi mắt.


    Hội chứng Carpenters

    Hội chứng Carpenters là chứng sọ mặt rất hiếm gặp. Cho đến nay, chỉ có khoảng 40 trường hợp được báo cáo và nó xảy ra do gen di truyền nhiễm sắc thể lặn.

    Đặc trưng của Hội chứng Carpenters


    Bệnh nhân mắc hội chứng Carpenters có đặc điểm sau:
    • Sọ hình tháp
    • Giảm chiều cao
    • Béo phì
    • Chậm phát triển tinh thần

    Kèm theo các dị tật này là hộp sọ lệch được mô tả như hình hoa 3 lá do dính liền sớm khớp sọ. Cũng có biểu hiện mắt hơi xếch, có nếp quạt, cũng như các dị dạng mắt. Bệnh nhân có tai thấp, cổ ngắn, và hàm răng nhỏ. Bệnh nhân có chậm phát triển tinh thần từ nhẹ tới nặng, mặc dù có trường hợp trí tuệ bình thường được báo cáo.

    Nguyên nhân

    Chưa rõ nguyên nhân của dị dạng này.Hội chứng này cực kỳ hiếm gặp. Mặc dù có báo cáo vài trường hợp anh chị em ruột mắc bệnh, thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ mắc hội chứng Carpenters xảy ra cho những đứa con tiếp theo.

    Điều trị

    Bệnh nhân mắc hội chứng Carpenters có khó khăn khi phát âm do vòm miệng cong và nhô rất cao. Bệnh nhân phát triển hạn chế. Thường có chiều cao thấp.

    Do cực kỳ hiếm gặp, điều trị phụ thuộc rất nhiều vào tùy từng bệnh nhân. Thường phẫu thuật trong năm đầu đời để sửa chữa dị dạng sọ. Phẫu thuật trước hết cho phép có đủ thể tích hộp sọ để não phát triển. Tùy mức độ dị dạng mà cần phẫu thuật một hoặc hai giai đoạn. Nều cần có thể phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích hốc mắt và làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp. Chỉnh hình tay được bác sỹ chuyên khoa ngoại tay để có kết quả tốt nhất.

    (Nguồn: International Craniofacial Institute - www.craniofacial.net)

    Cám ơn Mod_SK đã nhắc nhở
    Lần sửa cuối bởi Dulichchuabenh.vn, ngày 14-02-2010 lúc 08:34 AM.

  2. #2
    Avatar của Mod_SK
    Mod_SK Đang Ngoại tuyến Bác sĩ
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    113
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Cảm phiền các bạn lưu ý nhớ đưa nguồn trích dẫn vao cuối mỗi bài post nhé

  3. #3
    Avatar của Mod_SK
    Mod_SK Đang Ngoại tuyến Bác sĩ
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    113
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Rất hữu ích . Bạn bổ sung thêm một số hội chứng nữa cho đầy đủ nhé .

Tag của Chủ đề này


SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.