Sinh mổ và sau sinh mổ

Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 11
  1. #1
    Avatar của motminhdemkhuya
    motminhdemkhuya Đang Ngoại tuyến Răng sữa
    Ngày tham gia
    Dec 2009
    Đang ở
    HCM
    Bài viết
    197
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Sinh mổ, một thứ mốt nhiều nguy cơ

    Sinh mổ, một thứ mốt nhiều nguy cơ
    SGTT - Tại TP.HCM, sinh mổ chủ động hiện nay đang trở thành mốt của nhiều bà mẹ. Chị L.T.L ở quận Bình Thạnh cho biết gia đình mình có bảy chị em nhưng có tới năm chị em chọn sinh mổ. Ngoài ra, không ít sản phụ phải sinh mổ vì đó là “đề nghị của bác sĩ sản khoa”.
    Theo PGS.TS Vũ Thị Nhung, nguyên giám đốc bệnh viện Hùng Vương TP.HCM, sinh đẻ là hiện tượng sinh lý bình thường, không nên lạm dụng mổ bắt con. Ảnh: CTV
    Chị N.T.T.H, 30 tuổi, vừa sinh con đầu lòng, lý giải: “Sinh mổ để giữ được vóc dáng cân đối sau khi sinh, bởi công việc của tôi chiếm vị trí quan trọng trong cơ quan và thường giao tiếp. Hơn nữa, sinh mổ sẽ an toàn cho con và đỡ đau cho mẹ”.
    82% bác sĩ muốn mổ
    PGS.TS Vũ Thị Nhung, nguyên giám đốc bệnh viện Hùng Vương TP.HCM, cho biết: 82% bác sĩ muốn mổ sinh. Lý do, nếu để sinh thường mà gặp tai biến thì họ dễ bị kiện thưa “do theo dõi không sát, thiếu trách nhiệm” vì hiện nay việc bệnh nhân kiện thầy thuốc đang gia tăng. Những trường hợp mổ chủ động như thế thường được mổ vào ban ngày và trong giờ hành chính. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều phụ nữ yêu cầu mổ lấy thai vì sợ đau đẻ, muốn giữ sự rắn chắc của tầng sinh môn và đặc biệt là cho con chào đời theo tử vi.
    Bác sĩ Nhung kể có gia đình vì hiếm con, muốn có một đứa cháu đích tôn, thông minh, tài giỏi, nên đi xem bói để chọn ngày, giờ để cháu chào đời. Và ca sinh mổ được thực hiện lúc nửa đêm. Do nhằm lúc ít bác sĩ, sản phụ bị chảy máu xối xả, bệnh viện không có máu để truyền, vận động máu của người nhà cũng không đủ nên bà mẹ bị rối loạn đông máu dẫn đến tử vong. “Thật tai hại khi nghe lời thầy bói để đi sinh vào giờ oái oăm như thế”, BS Nhung lắc đầu.
    Hiện nay, tại bệnh viện Hùng Vương, số người sinh mổ chiếm gần 33%. Còn tại bệnh viện Từ Dũ tỷ lệ sinh mổ gần 50%. Mặc dù việc sinh mổ theo yêu cầu đang bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng con số này đang tăng lên, đặc biệt ở các bệnh viện tư. Tuy nhiên, sinh thường hay sinh mổ còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau giữa các bác sĩ. Một lãnh đạo của một bệnh viện phụ sản (xin không nêu tên) cho rằng mổ lấy thai an toàn hơn so với sinh thường, bởi không phải lúc nào sản phụ sinh thường cũng sinh thuận lợi như bác sĩ dự đoán. Ví dụ: từ khi có thai cho đến lúc sắp sinh, bác sĩ theo dõi sản phụ và thai nhi phát triển rất bình thường, nhưng khi sinh thường, có thể nhau thai dài sẽ quấn vào cổ đứa bé dễ dẫn đến việc sinh thường không thành công… Lúc đó gia đình của sản phụ sẽ kiện tụng. Một cuộc chuyển dạ của thai phụ phải mất 12 – 16 giờ, bác sĩ, y tá phải thăm khám nhiều lần, sản phụ đau đớn kéo dài. Nếu sinh mổ, bác sĩ tiêm thuốc tê, thuốc gây mê giúp sản phụ bớt đau, mổ vài chục phút là xong. Mổ theo yêu cầu ở các bệnh viện thu được viện phí nhiều hơn, trả công cho bác sĩ mổ cao hơn đỡ đẻ.
    Tiềm ẩn nguy hiểm
    Chồng chị N.T.T.L là con một trong gia đình gốc Hoa, nên khi chị có thai thì cả gia đình rất mừng, ngày nào cũng cầu nguyện để được đứa cháu đích tôn. Khi biết đứa bé trong bụng đích thực là trai, gia đình chồng tiếp tục đi cầu khấn, xem thầy bói chọn giờ tốt, ngày tốt để đưa chị đến bệnh viện mổ lấy con. Cuộc sinh mổ diễn ra tốt đẹp, tuy nhiên, đứa bé lớn lên đã bốn tuổi nhưng vẫn ngơ ngác, không hiểu ý của người lớn. BS Nguyễn Thanh Thiện, khoa hộ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2, kể một trường hợp bé sinh mổ theo chủ định, sau đó bị suy hô hấp nặng. Bé được nhập viện trong tình trạng thở nhanh, môi tím tái. Nếu không được cấp cứu kịp thời, bé sẽ rất dễ tử vong. Trong vòng một năm làm việc tại đây, BS Thiện cho biết đã gặp khoảng mười ca sinh mổ bị suy hô hấp như trên.
    BS Nhung cho rằng người ta lầm tưởng mổ lấy thai là an toàn tuyệt đối, nhưng thực tế tỷ lệ mẹ tử vong cao hơn sinh thường. Việc mổ lấy thai có nguy cơ tai biến do gây tê, mê, do chảy máu, nhiễm trùng, tai biến trong khi phẫu thuật như tổn thương bàng quang, rách thêm vết mổ tử cung, tổn thương đường tiết niệu, nếu có băng huyết thì phải cắt tử cung... Ngoài ra, sẹo mổ trên tử cung có thể bị nứt trong những thai kỳ sau, nếu không xử lý kịp thời sẽ tử vong cả mẹ lẫn con, nhất là hai lần mang thai quá gần… Một vấn đề không kém phần quan trọng là so với sinh thường, thời gian nằm viện của sản phụ mổ lấy thai sẽ dài hơn, tốn kém nhiều hơn, đau đớn hơn, sự chăm sóc và cho con bú cũng bị ảnh hưởng. Việc mổ lấy thai là nguyên nhân của những tai biến khác đối với trẻ như: dao mổ chạm vào thai nhi (1 – 9%). Trẻ sinh non tăng do muốn mổ sinh theo ngày. Bên cạnh đó, trẻ sinh mổ giảm khả năng miễn dịch hơn trẻ sinh thường.
    Theo BS Nhung, sinh đẻ là hiện tượng sinh lý bình thường, vì sức khoẻ của bà mẹ và thai nhi, cả bác sĩ lẫn sản phụ không nên lạm dụng mổ lấy thai. Chỉ nên sử dụng khi cuộc sinh ngả âm đạo có nguy cơ ảnh hưởng đến mẹ và con.


    theo saigontiepthi

  2. #2
    Avatar của ruby0104
    ruby0104 Đang Ngoại tuyến Đánh vần
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    1,539
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Smile Sinh mổ và sau sinh mổ

    Để đảm bảo an toàn tối đa, tốt nhất lần mang thai sau nên cách với lần sinh mổ trước ít nhất là 2 năm.




    Theo quan niệm truyền thống, phụ nữ không nên sinh mổ quá 3 lần và nên đợi ít nhất là 1 năm sau sinh mổ hãy có thai trở lại. Tuy nhiên, rất nhiều bác sĩ sản khoa không đồng tình với quan niệm này. Sinh mổ là một cuộc đại phẫu với thao tác rạch một đường nhỏ (phía bụng dưới và tử cung của người mẹ) để lấy em bé ra được dễ dàng. Quá trình lành vết rạch phụ thuộc vào sức khỏe của người phụ nữ và thường chỉ 3 tháng sau sinh là lành hoàn toàn.
    Trong thực tế, kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, vết sẹo sinh mổ ở trên tử cung sẽ tiếp tục được củng cố, ngày càng dày lên và có thể gây ra một số vấn đề sau này. Vết sẹo này liên quan mật thiết với việc sinh lần tới, bạn có thể sinh thường hay buộc phải sinh mổ. Bởi có nhiều bằng chứng cho thấy vết sẹo này có thể bị bục trong quá trình chuyển dạ tự nhiên.
    Trong một nghiên cứu với 170 phụ nữ tham gia, nguy cơ bục vết sẹo sẽ cao hơn khi khoảng thời gian giữa 2 lần sinh ít hơn 6 tháng. Trong một nghiên cứu lớn hơn, với gần 2.500 phụ nữ tham gia cho thấy, những phụ nữ mang thai lần 2 cách lần sinh mổ trước dưới 18 tháng, thì nguy cơ bục vết sẹo tử cung cao gấp 3 lần so với những phụ nữ mang thai lần 2 ở khoảng cách dài hơn. Nghiên cứu thứ 3 cho thấy: nguy cơ bục vết sẹo tử cung sẽ tăng cao ở những phụ nữ sinh chỉ định bằng phương pháp mổ đẻ, đặc biệt là khi chưa có dấu hiệu chuyển dạ và khoảng cách giữa lần sinh trước với lần mang thai này là ít hơn 2 năm.
    Ngoài ra, những vấn đề với nhau thai cũng có thể tăng lên ở lần mang thai sau nếu khoảng cách với lần sinh mổ trước ngắn. Nếu khoảng cách dưới 1 năm thì nguy cơ nhau tiền đạo và bong nhau thai là rất lớn. Kết quả này thu được từ nghiên cứu quy mô tại Mỹ với gần 200 ngàn phụ nữ tham gia.
    Tỉ lệ các bà mẹ bị bục vết sẹo mổ đẻ là rất nhỏ và hầu hết những trường hợp “nhỡ” và giữ lại đều có thể đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con khi được các bác sĩ chuyên khoa theo dõi chặt chẽ. Nhưng để đảm bảo an toàn tối đa, tốt nhất lần mang thai sau nên cách với lần sinh mổ trước ít nhất là 2 năm.
    Theo dantri

    Lần sửa cuối bởi mod_HBB, ngày 15-06-2010 lúc 08:42 PM. Lý do: sưa lại tên chủ đề

  3. #3
    Avatar của ruby0104
    ruby0104 Đang Ngoại tuyến Đánh vần
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    1,539
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Smile Phục hồi sức khoẻ sau khi sinh mổ

    Hiện nay khá nhiều bà mẹ lựa chọn phương pháp sinh mổ, tuy nhiên sau khi hết thuốc tê sẽ rất đau. Làm thế nào để giúp các sản phụ nhanh chóng hồi phục sức khoẻ?
    6 tiếng sau khi mổ

    Tư thế nằm: Sau khi về đến phòng hậu phẫu, sản phụ nên nằm nghiêng đầu sang một bên, thẳng người và không dùng gối. Mục đích của việc làm này là do các sản phụ hay sử dụng phương pháp gây tê màng cứng, sau khi mổ nên nằm thẳng người, không dùng gối để tránh đau đầu. Ngoài ra nên nằm nghiêng đầu sang một bên để tránh nôn. Các y bác sỹ sẽ giúp sản phụ cố định túi thông tiểu ở vị trí thích hợp và lót giấy vệ sinh dưới mông, định kỳ thăm khám tử cung để xem xét sự co tử cung và tình trạng xuất huyết âm đạo.

    Kịp thời cho bé bú: Trẻ cần được bú sữa non ngay sau khi chào đời. Đây là kinh nghiệm quý báu dành cho cả mẹ và bé. Phản xạ mút sữa của trẻ sẽ kích thích sự co tử cung, giảm được hiện tượng xuất huyết tử cung, giúp cho vết thương mau lành.
    Không nên ăn: Không nên ăn trong vòng 6 tiếng sau khi mổ. Nguyên nhân là do sau khi mổ ruột bị kích thích nên chức năng của đường ruột bị hạn chế, nhu động ruột giảm và chậm lại, trong khoang ruột có nhiều khí tích tụ, vì thế sau khi mổ thường có cảm giác đầy bụng. Để giảm bớt khí trong ruột, tạm thời chưa nên ăn uống gì.

    1 ngày sau khi mổ (sau 6 tiếng)

    Tư thế nằm: Lúc này có thể nằm thẳng và dùng gối, tuy nhiên vẫn nên nằm nghiêng đầu sang một bên, có thể dùng chăn để đệm ở sau lưng làm sao cho thân người tạo với giường một góc 20-300, mục đích của việc làm này là giảm va chạm đến vết mổ và giảm đau khi dịch chuyển cơ thể, giúp sản phụ cảm thấy dễ chịu hơn.

    Phương pháp giảm đau: Sau khi thuốc tê hết tác dụng, sản phụ thường thấy đau ở vết mổ, lúc này có thể nhờ bác sỹ kê đơn thuốc để làm dịu cơn đau.

    Ăn ngay khi có thể: 6 tiếng sau khi mổ có thể uống một số loại canh giúp loại bỏ bớt khí ra ngoài như canh củ cải để tăng cường nhu động ruột, giảm đầy hơi đồng thời bổ sung nước cho cơ thể. Tuy nhiên cần tránh (ăn ít hoặc không ăn) những chất có đường, đậu tương, các thực phẩm dạng tinh bột để tránh đầy hơi thêm.

    Vận động càng sớm càng tốt: Lúc này phải đặc biệt chú ý đến việc giữ ấm cơ thể và sự thông suốt của các đường ống dẫn trong cơ thể; thường xuyên vệ sinh sạch sẽ, thay giấy vệ sinh, thi thoảng thay đổi tư thế nằm, lật người, vận động chân tay.

    Sau khi phục hồi tri giác, cảm giác sau mổ thì nên vận động chân tay, 24 tiếng sau mổ nên tập trở mình, ngồi dậy và xuống giường vận động nhẹ nhàng, nếu điều kiện cho phép có thể đi lại; vận động giúp thúc đẩy sự tuần hoàn máu, giúp miệng vết thương mau lành, hơn nữa lại có thể gia tăng nhu động ruột, giúp đẩy nhanh khí ra ngoài đồng thời dự phòng được chứng dính ruột và tắc động mạch.

    1 tuần sau khi mổ

    Uống nhiều nước: 3-5 ngày sau khi mổ cơ thể người mẹ vẫn còn suy nhược. Vết mổ vẫn còn đau, những người mẹ trẻ sẽ bị táo bón và có cảm giác đầy hơi, đó là do ảnh hưởng của thuốc tê, vì thế uống thật nhiều nước là điều cần thiết. Tốt nhất là nên uống trà nóng hoặc nước có nhiệt độ không thấp hơn nhiệt độ phòng.

    Kịp thời đi vệ sinh: Sau khi mổ do bị đau nên bụng không thể dùng sức, việc đi tiểu tiện đại tiện không thể được bài tiết kịp thời dễ gây sỏi thận hoặc táo bón. Lúc này cần theo thói quen thông thường, tạo thành thói quen đi tiểu tiện, đại tiện kịp thời.

    Nhờ mọi người trong gia đình giúp đỡ: Thường sau khi sinh mổ từ 5-7 ngày sản phụ sẽ được xuất viện. Sau khi ra viện, sản phụ cần có người giúp đỡ để làm việc nhà và chăm sóc em bé. Tốt nhất là bố bé có thể nghỉ phép hoặc cả gia đình (ông bà nội ngoại…) cùng giúp sức.

    Ăn uống: Sau khi sản phụ đã đào thải được khí ra ngoài cơ thể có thể ăn uống bắt đầu từ những loại thức ăn lỏng đến sền sệt, nên chọn loại thức ăn có nhiều dinh dưỡng mà lại dễ tiêu hoá như canh trứng gà, cháo nhuyễn, mỳ..sau đó tuỳ theo thể chất của sản phụ để dần dần khôi phục lại chế độ ăn như bình thường. Lúc này không cần vội phải sử dụng những loại canh để giúp tiết sữa như canh gà hay canh thịt.

    2 tháng sau khi mổ

    Không nên vác nặng: Không nên mang vác vật nặng hơn trọng lượng của em bé. Lúc này sản phụ có thể lên xuống cầu thang, tuy nhiên chỉ nên lên xuống 1 tầng là đủ, và lúc mới đầu nên tập nhẹ nhàng với lượng vận động ít.

    Không tự đi xe, lái xe: 2-3 tuần đầu tiên sau khi sinh không nên tự đi xe vì nếu có gặp sự cố thì phản ứng của sản phụ không đủ nhanh nhậy để ứng biến.

    Rèn luyện cơ thể: Có thể bắt đầu luyện tập cơ chậu, đây là bài tập rất đơn giản mà hiệu quả lại cao: sản phụ thử tập co cơ âm đạo, đếm đến 10 rồi thả lỏng và tiếp tục lặp lại.



    Theo Afamily

  4. #4
    Avatar của hoacat
    hoacat Đang Ngoại tuyến Mẹ Bống
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,526
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 4 Posts
    Xu
    25

    Mặc định Sinh mổ - nên hay không?

    Hiện nay, nhiều sản phụ chọn cách sinh mổ vì sợ đau đẻ, đồng thời chủ động được thời gian, tránh cho người nhà và sản phụ những căng thẳng, mệt mỏi của quá trình chờ sinh. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, sinh thường mới là “giải pháp tối ưu” cho cả mẹ và bé.

    Sinh mổ khi nào?
    Các bác sĩ sẽ chỉ định sinh mổ trong trường hợp sản phụ gặp những vấn đề không thể sinh thường như: khung chậu hẹp, bất tương xứng giữa đầu thai với khung chậu vì em bé quá to khoảng trên 4kg (đầu thai lớn hơn khung chậu sản phụ), mẹ mắc bệnh tim mạch, không đủ sức rặn hoặc tử cung không gò được để đẩy thai ra ngoài và biện pháp giục sinh đã thất bại... Ngoài ra, còn có trường hợp sinh khó buộc phải mổ: ngôi thai xoay ở tư thế bất thường ở cuối kì (ngôi mông, ngôi ngang...) nếu không phẫu thuật sẽ nguy hiểm cho mẹ và bé; hoặc thai suy khi đang chuyển dạ, nước ối không tốt... bác sĩ cũng sẽ quyết định cho sinh mổ để bảo đảm an toàn cho mẹ và bé.



    Chỉ sinh mổ khi có chỉ định của bác sĩ. Ảnh: Hồng Nga

    Những nguy cơ của sinh mổ
    Hiện không ít người mẹ quyết định phương pháp sinh mổ để chọn “ngày đẹp, giờ vàng” cho bé ra đời hoặc vì lý do sợ đau, sợ bị giãn âm đạo khi sinh thường. Tuy nhiên, người mẹ phải hết sức thận trọng vì biện pháp sinh này có thể đưa lại những nguy cơ như:

    - Sinh mổ sẽ tránh cho người mẹ những cơn đau khi chuyển dạ, tuy nhiên, những thủ thuật sau đó lại khiến người mẹ bị đau hơn nhiều.
    - Những nguy cơ khi sinh mổ như: tai biến khi gây tê, vết mổ bị rách, chảy máu, tổn thương đường tiết niệu, nhiễm trùng, băng huyết... đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người mẹ. Đặc biệt, nhiễm trùng mổ có khả năng gây hoại tử cổ tử cung. Nguy hiểm hơn, sinh mổ còn khiến người mẹ có thể bị tắc ruột, tắc ống dẫn trứng, gây vô sinh thứ phát.
    Ngoài ra, sinh mổ cũng buộc người mẹ phải dùng kháng sinh trong khoảng thời gian cho bé bú sau đó. Điều này sẽ khiến chất lượng sữa của mẹ giảm sút, thậm chí còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bé. Những bé sinh mổ có nguy cơ suy yếu hệ miễn dịch và hô hấp lớn hơn nhóm bé được sinh thường.

    Sau mổ bao lâu có thể mang thai lại?
    Những người đã sinh mổ là trường hợp gặp những vấn đề không thể sinh thường nên lần sinh sau thường cũng phải áp dụng biện pháp sinh mổ. Trong lần sinh sau bác sĩ vẫn sẽ thao tác trên vết mổ cũ nên nếu khoảng cách giữa hai lần sinh quá gần vết khâu sẽ không an toàn (rách, bung đường khâu...) hoặc thai to cũng sẽ làm rách, bục vết khâu của lần sinh trước. Đồng thời, các cơ quan nội tạng sẽ bị tác động tiếp tục và làm gia tăng khả năng dính ruột, rất nguy hiểm. Những sản phụ phải sinh mổ chỉ nên sinh tối đa là 2 lần, khoảng cách giữa hai lần sinh là 5 năm để không ảnh hưởng đến sức khoẻ. Trong khoảng từ 2 - 3 năm, nếu bị “nhỡ” thì có thể giữ lại nhưng để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con cần được các bác sĩ chuyên khoa theo dõi chặt chẽ.

    Hiện nay, các bệnh viện cũng đang triển khai thực hiện giải pháp “đẻ không đau”. Thực chất đây chỉ là giảm đau sản khoa bằng cách tiêm thuốc tê vào các khe trống giữa các đường dẫn tủy trong cột sống. Lúc này, sản phụ vẫn hoàn toàn tỉnh táo vì thuốc chỉ lan đến các dây thần kinh phía dưới cơ thể nên làm giảm cảm giác đau vùng này. Thai phụ chỉ có cảm giác đau nhẹ đủ để tạo sức rặn giúp tử cung gò đẩy thai ra ngoài. Phương pháp này cũng giúp các thai phụ giảm bớt cảm giác sợ những cơn đau đẻ.
    Sinh thường bao giờ cũng tốt nhất cho cả mẹ và bé, nên trong những trường hợp không bắt buộc phải can thiệp phẫu thuật, bác sĩ vẫn khuyên các sản phụ nên chọn biện pháp sinh thường.
    Bác sĩ Nguyễn Thanh Thủy

  5. #5
    Avatar của ruby0104
    ruby0104 Đang Ngoại tuyến Đánh vần
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    1,539
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    mình cũng sinh mổ đây, nhưng BS lại hd lànên sinh lần 2 sau 3 năm chứ ko pải là 5 năm, vậy có đúng ko nhỉ, nhưng mình nghĩ 5 năm thì tốt hơn, con vừa lớn vừa có thời gian nghỉ ngơi hợp lý, tốt cho cả mẹ và bé nữa

  6. #6
    Avatar của hoacat
    hoacat Đang Ngoại tuyến Mẹ Bống
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,526
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 4 Posts
    Xu
    25

    Mặc định

    Trích dẫn Gửi bởi ruby0104 Xem bài viết
    mình cũng sinh mổ đây, nhưng BS lại hd lànên sinh lần 2 sau 3 năm chứ ko pải là 5 năm, vậy có đúng ko nhỉ, nhưng mình nghĩ 5 năm thì tốt hơn, con vừa lớn vừa có thời gian nghỉ ngơi hợp lý, tốt cho cả mẹ và bé nữa
    HC cũng nghĩ là khoảng cách 5 năm sau mỗi lần sinh thì sẽ đảm bảo sức khỏe cho mẹ, và cũng đảm bảo chăm sóc con được chu đáo hơn . Lúc đó con đã lớn có thể đi trẻ đi học mìn có thời gian cho việc chăm sóc cho em bé hơn .
    Mẹ Ruby sinh bé được bao nhiều kg vậy ? Mà mẹ ruby sinh ở viện nào thế ạ . HC đang phân vân chọn bệnh viện để đi đăng ký sinh đấy ạ . Mẹ ruby có kinh nghiệm đi sinh rồi thì tư vấn cho HC với ạ

  7. #7
    Avatar của Meomeo279
    Meomeo279 Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Bài viết
    36
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Mổ lấy thai

    Một em bé đẻ ngôi mông nghĩa là mông ra trước. Khoảng bốn trăm các em bé đẻ ngôi mông. Vì phần lớn nhất của em bé (cái đầu) sinh ra sau, người ta thường đo cái đầu bằng siêu âm vào khoảng cuối thai kỳ, để kiểm tra xem nó có đủ nhỏ để lọt qua khung xương chậu không. Chuyển dạ với một em bé ngôi mông có thể lâu hơn, khó hơn và bao giờ cũng phải diễn ra trong bệnh viện. Bạn sẽ cần đến thủ thuật cắt tầng sinh môn (episiotomy), và nhiều khi người ta phải sử dụng kẹp forceps. Đôi khi phải mổ để lấy thai và một số bệnh viện luôn mổ để lấy tất cả các em bé ngôi mông.
    Sinh đôi

    Đẻ sinh đôi nhất thiết phải ở bệnh viện vì đôi khi cần đến kẹp forceps để hỗ trợ cho việc đỡ đẻ hoặc là do các bé sinh non hoặc là do một trong hai bé sinh đôi nằm ngược và các bé sinh đôi nằm ngược và các bé sinh ra hơi nhở cần phải được chăm sóc đặc biệt. Chắc chắn người ta sẽ khuyên bạn nên gây tê ngoài màng cứng. Chuyển dạ chỉ có một giai đoạn đầu, nhưng bạn sẽ trải qua hai giai đoạn hai, vì trước tiên bạn rặn một em bé ra trước rồi mới rặn tới em bé kia. Bé sinh đôi thứ hai thường ra sau bé trước từ 10 đến 30 phút.
    Với môt ca đẻ mổ lấy thai, em bé được đỡ đẻ từ bụng ra. Có thể là bạn biết trước mình sẽ được mổ lấy thai hoặc có thể là một ca phẫu thuật cấp cứu vì gặp vấn đề trong khi chuyển dạ. Trong trường hợp người ta dự kiến mổ lấy thai, bạn có thể trải qua cuộc phấu thuật với thuốc tê chích dưới màng cứng và bạn tỉnh trong suốt thời gian mổ. Bạn có thể ăm em bé ngay sau đó. Sự việc cũng có thể xảy ra như thế, nếu trong khi chuyển dạ bạn mới được thông báo là cần môt. Tuy nhiên, đôi khi cần phải gây mê. Cảm thấy thất vọng hay cảm thấy mình thiệt thòi vì không sinh đẻ bình thường là điều tự nhiên, nếu bạn cần phải mổ. Tuy nhiên, các cảm nghĩ đó có thể được giảm thiểu, nếu bạn tự chuẩn bị tinh thần một cách tòan diện. Hãy hỏi bệnh viện xem ông xã bạn có thể ở lại cùng bạn suốt thời gian mổ không.
    Điều gì xảy ra

    Người ta sẽ cạo sạch lông nơi âm hộ của bạn, đặt dây truyền vào cánh ta và luồn một ống thông vào bàng quang. Bạn sẽ được gây tê ngòai màng cứng, một tấm màn che được dựng lên giữa bạn và phẫu thuật viên. Một đường rạch ngang thường được thực hiện để rút cho nước ối thóat đi. Em bé được lấy ra đôi khi bằng forceps. Bạn có thể ôm em bé vào lòng, khi người ta lấy bánh nhau ra. Khởi đầu phẫu thuật cho đến khi lấy thai ra thường mất khoảng 5 phút. Mất chừng 20 phút nữa để khâu lại vết mổ cho bạn.
    Sau khi mổ

    Người ta sẽ khuyến khích bạn nên sớm đi lại sau khi mổ. Vết mổ sẽ đau trong một vài ngày, do đó bạn hãy yêu cầu được cho thuốc giảm đau. Việc đi lại sẽ không làm bung chỉ vết mổ. Bạn cứ đứng thẳng lên và lấy hai bàn tay áp lên trên vết mổ. Khoảng hai ngày sau khi mổ, bạn hãy bắt đầu tập những bài thể dục nhẹ và chừng một ngày sau đó sau khi tháo băng, bạn có thể tắm được. Các mũi chỉ may có thể được rút đi 5 ngày sau khi sinh (trừ khi dùng chỉ tự tiêu) và bạn sẽ cảm thấy khỏe khoắn hơn nhiều sau một tuần. Bạn nên tránh làm việc nặng ít nhất là trong 6 tuần. Chỉ trong vòng 3 đến 6 tháng vết sẹo sẽ mất dần.

  8. #8
    Avatar của ruby0104
    ruby0104 Đang Ngoại tuyến Đánh vần
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    1,539
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Smile Sinh mổ và những điều cần lưu ý



    Ngày càng có nhiều bà mẹ và em bé được cứu sống nhờ phương pháp sinh mổ, tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận xu hướng lạm dụng kỹ thuật này.



    ảnh minh họa
    Vậy sinh mổ có những biến chứng gì, có ảnh hưởng đến sữa cho em bé bú hay không và cách chăm sóc vết mổ như thế nào? Và sinh mổ em bé lần đầu thì nên sau bao lâu có thai sẽ an toàn và liệu sinh mổ có làm giảm nguy cơ viêm nhiễm phần phụ ở phụ nữ hay không?.

    Nhiều sản phụ cho rằng, mổ đẻ sẽ giúp đứa con ra đời một cách nhẹ nhàng, sẽ làm trẻ thông minh và khoẻ mạnh hơn. Bên cạnh đó, người mẹ cũng tránh được nhiều nguy cơ có thể xảy ra khi đẻ thường. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học đã chứng minh, đứa trẻ ra đời bằng phương pháp đẻ thường sẽ có sức đề kháng và đường hô hấp tốt hơn những đứa trẻ được mổ lấy ra.


    Đó là do trong quá trình được sinh ra, trẻ chịu sức ép của sự co bóp trong tử cung người mẹ nên phổi đã một quá trình thích ứng tốt. Các bé sinh mổ cần được theo dõi kỹ hơn vì có thể vẫn còn dịch chưa được lấy hết. Lúc đó, bé có thể bị suy hô hấp tức thời, nghẹt thở... nếu không được phát hiện có thể gây tử vong.
    Lưu ý đối với sản phụ sinh mổ khi về nhà:
    Dây chằng và cơ bị dão dưới tác dụng của các hormone trong thời gian mang thai. Các bộ phận ở bụng dưới hồi phục kém, các khớp không vững, cơ mất khả năng trương lực. Nếu đẻ mổ thì các cơ vùng bụng dưới bị giãn ra mạnh, Da bị tổn thương do vết rạch nên cơ thể sản phụ rất yếu. Vì vậy, sản phụ cần:

    - Không mang vác các vật nặng hơn trọng lượng của bé.

    - Nằm duỗi thẳng thường xuyên.

    - Chú ý đến tư thế cơ thể.

    - Cố gắng ngủ trưa hàng ngày.

    Chính vì thế, gia đình cần thu xếp việc nhà trước khi sản phụ và bé trở về, để các công việc hàng ngày chỉ tập trung vào việc chăm sóc trẻ.

    Chế độ dinh dưỡng và các vitamin

    Cơ thể cần phải bình phục sau 9 tháng có bầu và một ca phẫu thuật. Vì vậy, sau khi sinh cần áp dụng chế độ dinh dưỡng lành mạnh, cân bằng, giàu protein, nhiều quả và rau tươi, glucid chuyển hóa chậm (bánh mì, cơm nếp), uống nhiều nước (8 ly/ngày) để loại các chất độc ra khỏi cơ thể.

    Khi cảm thấy cơ thể mệt mỏi, cần bổ sung đường (bánh quy, bánh ngọt, kẹo hay các loại mứt). Các nghiên cứu y học cho thấy các bà mẹ trẻ khi đẻ mổ thường bị thiếu máu (tỷ lệ hồng tố cầu thường xuống dưới 10g/100ml máu) nên cần chú ý bổ sung thêm sắt, các vitamin tổng hợp trong ít nhất 3 tháng đầu sau khi sinh. Ngoài ra cần bổ sung thêm magie và canxi (các chế phẩm từ Sữa hay nước uống giàu canxi).

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2010
    Bài viết
    998
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 2 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Ưu và nhược điểm của đẻ mổ

    Xét về mặt tổng thể thì sinh mổ là phương thức khá an toàn, nhưng việc mổ đẻ vẫn là một loại hình phẫu thuật. Xem xét việc mổ đẻ khi sinh một cách khách quan, chúng ta có thể thấy được ưu khuyết điểm của nó.

    Ưu điểm của đẻ mổ

    - Cứu được tính mạng của người mẹ và thai nhi do các nguyên nhân như: đầu thai không thuận, thai nhi bị bệnh tật có tính chất nguy hiểm như bệnh tim, bệnh thận…
    - Mổ đẻ là hình thức giải thoát nguy hiểm cho thai nhi và người mẹ. Đây là phương pháp có hiệu quả để giải quyết việc khó sinh. Mổ đẻ sử dụng thủ thuật phẫu thuật có tính chính xác cao, dùng chất gây mê để tiến hành.
    - Nếu đã chọn phương pháp mổ đẻ, trước khi thai phụ bắt đầu co rút tử cung hãy tiến hành mổ đẻ để giúp người mẹ tránh những trận đau đớn khi sinh đẻ.
    - Nếu khi mang thai, thai phụ bị các bệnh như u buồng trứng, u xơ… thì việc mổ đẻ sẽ là tốt nhất để vừa lấy thai nhi ra, vừa có thể cắt bỏ khối u và chữa các bệnh.
    - Cùng với việc tiến hành mổ khi sinh, có thể phẫu thuật triệt sản, tức là phẫu thuật thắt ống vận chuyển noãn.
    - Mổ khi sinh có thể sẽ là phương pháp cấp cứu đối với việc cứu những thai nhi đang trong tình trạng nguy hiểm vì mổ khi sinh có thể lấy thai nhi ra khỏi cơ thể người mẹ rất nhanh.


    Nhược điểm của đẻ mổ

    Với người mẹ

    - Khi mổ đẻ nhất thiết cần phải có thuốc mê, nhưng bản thân thuốc mê lại có hại, hay gây ra các tác dụng phụ, làm tụt huyết áp,…
    - Tử cung bị thương: Mổ đẻ dễ làm cho tử cung bị thương, ảnh hưởng đến sự co thắt bình thường của tử cung.
    - Mổ đẻ để lại vết thương cả về thể chất lẫn tinh thần của người mẹ.
    - Phẫu thuật dễ mất nhiều máu: Thông thường thì âm đạo tiết ra một lượng máu không nhiều, nhưng khi mổ đẻ thì lượng máu mất đi gấp nhiều lần. Do mất lượng máu nhiều, khiến cho hàm lượng máu để co rút tử cung giảm thiểu, ảnh hưởng đến sự hồi phục của tử cung, khiến cho sự hồi phục sức khoẻ sau khi sinh của người mẹ chậm lại.
    - Mổ đẻ là nguyên nhân phát sinh nhiều chứng bệnh: Theo báo cáo thì phụ nữ mổ đẻ phát sinh các chứng bệnh âm đạo tăng 4 lần, chiếm 18%. Mất máu gây viêm nhiễm tăng chiếm 35%, mất máu sau sinh chiếm 16%.


    - Mổ đẻ để lại nhiều di chứng như: tử cung bị mẩn đỏ dễ dẫn đến dính ruột, viêm bàng quang…
    - Dù cuộc phẫu thuật đã hoàn thành thì vẫn có thể phát sinh nhiễm trùng vết mổ ở thành bụng, vết mổ không lành và để lại sẹo.
    - Mổ đẻ gây ảnh hưởng đến tuyến sữa: Do phẫu thuật mổ đẻ sẽ dẫn đến tổn thương, tinh thần của sản phụ bị mệt mỏi khiên sự điều tiết để phân chất các tuyến sữa từ não bộ bị hạn chế, ảnh hưởng đến sự phân tiết bình thường của tuyến sữa.
    - Sau khi đẻ mổ, người mẹ sinh con lần nữa sẽ gặp rất nhiều vấn đề. Các vết thương tử cung dễ gây hiện tượng vỡ tử cung, gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng người mẹ và cả đứa trẻ. Với sản phụ sinh mổ, muốn sinh trở lại cần chờ ít nhất là ba năm và khoảng cách tốt nhất là 5 năm. Nếu mang thai lần nữa sau khi đẻ mổ mà tiến hành phá thai, dễ phát sinh tình trạng thủng tử cung.

    Với thai nhi

    - Những trẻ được sinh ra do mổ thiếu đi sức ép cần thiết của đường sinh sản so với khi sinh tự nhiên, rất có thể phát sinh hội chứng trụy hô hấp, xuất huyết nội, viêm phổi. Khả năng miễn dịch với bệnh của trẻ đẻ mổ thường kém hơn so với những trẻ được sinh ra bằng đường âm đạo nên các trẻ này sau khi trưởng thành dễ mắc bệnh…
    - Những ca mổ đẻ sớm nếu không phải trong trường hợp khẩn cấp sẽ không có lợi cho trẻ sơ sinh và nếu càng mổ sớm, tỷ lệ nguy hiểm đối với trẻ càng cao. So với các trẻ mổ sinh vào tuần thứ 39 hoặc sau đó, các trẻ mổ sinh vào tuần thứ 37, 38 có nguy cơ cao hơn mắc phải các bệnh về đường hô hấp, do trung khu hô hấp chưa được chuẩn bị, trẻ cũng bị ảnh hưởng về lượng đường trong máu và các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.
    - Trẻ đẻ mổ nếu non tháng có nhiều biến chứng như: bệnh võng mạc sơ sinh, xẹp phổi... Bệnh võng mạc sơ sinh nếu không được phát hiện kịp thời có thể gây mù ở trẻ.
    - Mới đây, một nghiên cứu cũng tìm ra rằng 80% trẻ mổ sinh có nguy cơ cao bị bệnh hen.
    - Phần lớn số trẻ mổ sinh đều phải nhận được sự chăm sóc y tế đặc biệt sau khi chào đời.
    Như vậy, sinh con bằng đẻ mổ không lí tưởng như nhiều người vẫn nghĩ. Do đó, những thai phụ có thể sinh con thông qua âm đạo, nên cố gắng thực hiện đẻ thường. Chỉ trong trường hợp người mẹ không thể sinh con tự nhiên thì mới lựa chọn thời gian thích hợp để tiến hành phẫu thuật mổ đẻ.
    Lần sửa cuối bởi nakata84, ngày 23-03-2011 lúc 10:22 PM.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Nov 2010
    Bài viết
    998
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 2 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Đẻ mổ có ảnh hưởng đến đời sống tình dục không?

    Khi đẻ mổ, người phụ nữ không phải đối diện với nỗi lo bị sa tử cung. Hơn nữa, âm đạo cũng đã được “miễn” làm nhiệm vụ đưa em bé ra chào đời, chính điều này lại là thuận lợi (vấn đề co giãn) so với người sinh thường. Tuy nhiên, dù là sinh thường hay sinh mổ thì chuyện sinh hoạt chăn gối sau đó của các cặp vợ chồng cũng gặp phải không ít trở ngại.

    Sự ảnh hưởng thể hiện qua những yếu tố nào?
    - Việc âu yếm những vùng kín bị hạn chế vì các cơ, mô được khâu rất nhạy cảm.
    - Người vợ chưa sẵn sàng, cự tuyệt chồng một cách thái quá khiến chồng tổn thương.
    - Người phụ nữ giảm ham muốn, thậm chí sẽ mất hết khoái cảm.
    Nguyên nhân
    - Quan hệ khi vết mổ lấy thai chưa lành sẹo hoàn toàn.
    - Mổ đẻ dễ làm cho tử cung bị thương, ảnh hưởng đến sự co thắt bình thường của tử cung. Sẹo từ vết mổ làm cho bà mẹ đau đớn do tác động của cơn co thắt sau khi sinh.
    - Sau đẻ, buồng trứng giảm bài tiết estrogen, do đó âm đạo có thể giảm tiết dịch nhờn dẫn đến khô âm đạo.
    - Người chồng quá thô bạo.
    - Sinh hoạt tình dục quá sớm, bộ phận sinh dục của người phụ nữ chưa trở lại bình thường. Vì bề mặt tổn thương trong tử cung vẫn chưa lành, sự cân bằng về chất kiềm, chất acid trong âm đạo vẫn chưa hồi phục lại, nhất là khi sản dịch vẫn còn chưa ra sạch, nên vi trùng dễ xâm nhập vào và sinh sôi phát triển, gây viêm nhiễm cho âm đạo và tử cung.
    - Công việc chăm sóc con hàng ngày rất bận bịu, lại mất ngủ khi con thức giấc giữa đêm làm cho người mẹ mệt mỏi, ham muốn tình dục vì thế cũng bị ảnh hưởng.
    Giải pháp khắc phục
    Thời gian quan hệ tốt nhất sau đẻ mổ
    Quan hệ tình dục sớm hay muộn tuỳ sự hồi phục của mỗi người. Để tử cung trở lại bình thường phải mất khoảng 6 đến 8 tuần do đó sau khi sạch sản dịch cũng nên tránh quan hệ tình dục trong thời gian này.
    Quá trình vết thương liền sẹo kéo dài hơn, các cơ và mô được khâu lại rất nhạy cảm trong nhiều tuần sau khi đẻ. Bất kỳ hoạt động nào mạnh đều có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người vợ. Vợ chồng càng cần kiêng cữ cho đến khi vết mổ lành hẳn.
    Thường thường phụ nữ có thể gần gũi chồng vào tuần thứ 7 sau khi sinh con. Một khi đã tuân thủ những lời khuyên đó, vợ chồng có thể trở lại với sinh hoạt tình dục bình thường khi có nhu cầu ham muốn.
    Vợ chồng cần hiểu và tôn trọng nhau
    - Để có thể hòa hợp được chuyện chăn gối sau khi sinh mổ thì cần phải có sự cố gắng chia sẻ và tôn trọng nhau từ cả hai vợ chồng để có thế khắc phục và có được cảm giác hưng phấn như bình thường.
    - Người phụ nữ nên chia sẻ thẳng thắn cảm giác của mình để chồng hiểu, thông cảm và không gượng ép bạn. Nếu vết mổ vẫn còn đau đớn thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ và kiểm tra hậu sản trước khi “yêu” trở lại. Không nên thể hiện phản ứng một cách thái quá khiến chồng bị tổn thương.
    - Người chồng cần tạo điều kiện cho vợ được nghỉ ngơi, giúp vợ trong nhiều công việc của gia đình, như vậy người vợ sẽ nhanh chóng hồi phục sức khỏe, thoải mái, có tâm lý thư thái và dễ sẵn sàng hơn trong chuyện tình dục.
    Nên hiểu rằng những lần đầu quan hệ tình dục lại sau sinh, người phụ nữ có thể không thoải mái, vì những thay đổi cơ thể và do lo ngại các tổn thương chưa lành. Do đó, khi quan hệ cần nhẹ nhàng, dịu dàng, thư giãn hết sức và có thể dùng thêm chất bôi trơn vì âm đạo của người phụ nữ sau sinh có thể hơi khô hơn bình thường.
    Tư thế “yêu” an toàn
    Bạn nên chọn tư thế ít gây đau và hết sức tránh kiểu mặt đối mặt. Một số tư thế giao hợp có thể giúp giảm bớt kích thích, tác động đến vết mổ như: Người phụ nữ ở phía trên, hay hai người nằm nghiêng áp vào nhau…

    Chọn giải pháp khi bạn chưa sẵn sàng
    Bạn vẫn có thể thay thế quan hệ tình dục bằng nhiều cách khác (âm yếm, vuốt ve...) để cả hai đều cảm thấy được thỏa mãn khi người phụ nữ chưa thực sự sẵn sàng cho chuyện "ấy" sau khi sinh con.

    Để biết thêm các thông tin liên quan khác các bạn vui lòng ghé thăm trang http://www.mangthai.vn để biết thông tin chi tiết , đây là 1 trang web rất hay và bổ ích cung cấp thông tin, hỗ trợ dịch vụ, tổ chức tuyên truyền, tư vấn và đào tạo các kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ, các kỹ năng sống cho trẻ em.

Trang 1 của 2 12 CuốiCuối

SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.