Thần Thoại Việt Nam Và Trung Hoa (st)

Trang 1 của 7 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 69
  1. #1
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Post Thần Thoại Việt Nam Và Trung Hoa (st)

    THẦN THOẠI
    Việt Nam – Trung Hoa

    DOÃN QUỐC SỸ
    Sưu tập



    LỜI CẢM TẠ

    Xinh chân thành cảm tạ Giáo sư Nguyễn Văn Nha đã giúp soạn giả nhiều trong phần tham khảo các tài liệu chữ Hán khi viết về thần thoại Trung Hoa.

    Xin chân thành tri ân :
    Ông Hoàng Trọng Miên – tác giả Việt Nam Văn Học Toàn Thư,
    Giáo sư Lê Hữu Mục – dịch giả Lĩnh Nam Chích Quái và Việt Điện U Linh Tập,
    Giáo sư Trần Ngọc Ninh, về những bản văn đúc kết và trích dẫn.

  2. #2
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Thần thoại việt nam và miền núi

    THẦN THOẠI VIỆT NAM VÀ MIỀN NÚI

    TỔNG LUẬT VỀ THẦN THOẠI VIỆT NAM

    Có thể coi thần thoại Việt Nam là một thành phần của gia đình thần thoại lớn gồm cả các sắc tộc miền núi như Mường, Mèo, Thái, Mán, Khả, Lô lô … nghĩa là tất cả những sắc dân quy tụ trong khoảng địa bàn từ miền nam núi Ngũ Lĩnh đến cao nguyên Trấn Ninh, phía nam Hoành Sơn.

    Nhìn vào thần thoại Việt Nam và so sánh với thần thoại của đồng bào miền núi, chúng ta thấy phần sáng tạo vũ trụ của ta dường như có bị hao hụt và lai với thần thoại Trung Hoa khá nhiều. Trong Việt Nam Văn Học Toàn Thư, quyển I, Thần Thoại, tác giả Hoàng Trọng Miên cũng đã cố gắng sưu tầm và sắp xếp rất hợp lý thần thoại Việt Nam từ thuở sáng lập vũ trụ đến các huyền thoại dật sử, nhưng trong phần “Vũ trụ và muôn loài”, chúng ta thấy hầu hết phần sau các huyền thoại đều bị pha màu Trung Hoa. Tỷ như truyện “Trời” thì vợ Trời là bà Tây Vương Mẫu (Trung Hoa) ở núi Côn Lôn (địa danh Trung Hoa). Truyện “Thần Nam và thần Nữ” thì thần Nữ la` Nữ Oa (Trung Hoa). Đến những truyện khác như thần Tài, thần Phúc, thần Thọ, thần Lộc đều là những khuôn mặt du nhập tự Trung Hoa.

    Đã đành có sự giao lưu giữa các thần thoại trên thế giới, nhưng dù có chịu ảnh hưởng hỗ tương, thì huyền thoại của mỗi nước vẫn phải mang con dấu của riêng mình, không nên chấp nhận những gì chỉ là sự vay mượn hay vá víu đơn thuần.

    Trước khi chọn lọc, giới thiệu thần thoại Việt Nam và thần thoại các sắc tộc miền núi, chúng tôi muốn thoạt hãy trình bày một đồ biểu để chúng ta có được ngay cái nhìn tổng quát và những nét tương đồng tương dị giữa các thần thoại đó (xem trang 19-21). Mấy nét huyền thoại chính dùng làm tiêu điểm trong đồ biểu là : Thượng đế sáng tạo vạn vật, hay đấng thủy tổ; nạn Hồng thủy; anh em lấy nhau; cây, cột hay tháp nối liền trời đất.
    Nhìn vào đồ biểu (trang 19-21), chúng ta rút ra một số nhận xét :

    1. Hầu hết các thần thoại đều có nạn Hồng thủy trừ thần thoại Việt, Mường và Phủ Nội *.
    2. Thần thoại Việt, Mường và Mèo thuộc dòng huyền thoại sinh ra trứng rồi nở ra các giống người; còn thần thọai Thái, Khả, Mán, Lô-lô, Phủ nội thuộc dòng huyền thoại trái bầu, rồi tự đó chui ra các giống người.
    3. Thần thoại Thái và Phủ nội không có truyện anh em sống sót sau nạn Hồng thủy, buộc lòng phải lấy nhau để duy trì nhân loại.
    4. Thần thoại Mán, Khả, Lô lô không thấy nói tới huyền thoại cây hay cột chống trời, nối liền trời đất.
    5. Riêng thần thoại Lô lô, theo bản văn của Hoàng Trọng Miên (VNVHTT, Quyển 1, Thần thoại, trang 135-36) chỉ thấy nói người em út và người chị sống sót sau nạn Hồng thủy, mà không nói thêm có buộc lòng phải lấy nhau như những thần thoại Khả, Mán, Mèo, Mường không. Sự thiếu sót này có lẽ vì vào thời khởi thủy, Thượng đế Kết Dơ đã dùng đất nặn ra thần Nam và thần Nữ, và hai thần này cũng đã tự coi nhau như anh em buộc lòng phải lấy nhau rồi, nên không muốn nhắc lại một lần nữa ở sự tích hai chị em sống sót chăng ?
    6. Sau cùng, nếu đọc kỹ bản văn (cũng của Hoàng Trọng Miên), chúng ta thấy thần thoại Mán thuở khởi thủy cũng có Bàn Cổ (giống Trung Hoa), hơn nữa con Bàn Cổ là Bàn Vũ lại lấy công chúa thứ ba của Hoàng đế Trung Hoa. Thần thoại Phủ Nội thì có nhắc đến thần Indra của Ấn độ và những tu sĩ từ Hy mã lạp sơn xuống. Đó là những nét giao lưu được ghi nhận giữa các thần thoại láng giềng.

    (*) Tức P’u Noi (xem chú thích trang 21 sau đây)


  3. #3
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định ý nghĩa cột chống trời

    Ý NGHĨA CỘT CHỐNG TRỜI

    Đặc biệt những dân ngày nay đã thành dân Đại Dương, họ tin rằng khởi thủy của vũ trụ có một cái cây là trung tâm của cả Trời Đất, lá cây phát ra những tiếng vi vu là lời của tổ tiên, do đó tạo ra ngôn ngữ để làm trật tự cho loài người.

    Về vấn đề này, Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã viết, đại ý :
    Trong tín ngưỡng của dân Lạc cổ, hay đúng hơn của những người thuộc nhiều sắc dân nhưng gần chung một văn hóa qua các huyền thoại ở khu vực nằm giữa Ngũ lĩnh và Hoành sơn, thì sau khi Trời Đất phân chia, vũ trụ đã được tổ chức quanh một cái cột thông liền ba cõi thế gian Trời-Đất-Người. Bốn phương được định, mặt đất được tổ chức, sự phân biệt đất sống và đất linh cho phép các bộ lạc làm ăn, sinh sống dưới bóng linh thiêng.

    Thần thoại Việt nam có truyện “Thần Trụ Trời”. Núi Tản Viên là một nơi khác cũng được coi là một cột chống trời, đệ nhất cao sơn của Việt nam, nơi trời đất thông nhau, Sơn Tinh ngự ở đó. Trong huyền thoại Chử Đồng Tử ở đồng bằng ven sông, trên bãi không, cắm cái gậy xuống đất, úp nón lên, thành biểu tượng của cột chống trời, linh thiêng hiển hiện, đất cấm trở nên ở được, trù phú.

    Người Phủ Nội cho rằng cây chống trời là cây song Khưa-khao-cát mọc ở hồ Nong-khu (Điện Biên Phủ).

    Thần thoại Thái có cây song Chuốc-khao-cát làm đường đi lại giữa trời và đất. Hai thiên sứ Tao Suông và Tao Ngân khi xuống mặt đất sau nạn Hồng thủy cũng có mang theo tám quả bầu và tám gậy đồng Sao-cam-pha (gậy chống trời).

    Thần thoại Mèo thì dân chúng nhớ thiên đường Giu Giang Ka bèn rủ nhau xây tháp làm đường lên trời.

    Thần thoại Mường kể rằng bộ hạ Lang-Đa-Cần đã phải vất vả lắm mới kiếm được cây Chu-đồng linh thiêng đem về làm trụ kình thiên cất cung điện *.

    (*) Xin đọc Trần Ngọc Ninh, “Huyền thoại Việt nam”, Tân Văn, 14 (tháng 6, 1969), 23-36


  4. #4
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Vấn đề thiếu nạn hồng thủy trong thần thoại việt nam

    VẤN ĐỀ THIẾU NẠN HỒNG THỦY TRONG THẦN THOẠI VIỆT NAM

    Vẫn giáo sư Trần Ngọc Ninh trong thiên khảo luận “Huyền Thoại Việt Nam” đăng trong nguyệt san Tân Văn có nêu ý kiến về vấn đề này, xin tóm lược :

    … Các nhà nho của ta xưa cũng như các triết gia Hy lạp cổ còn nhân danh một thứ luân lý hẹp hòi và hủ lậu mà chọn lọc hay sửa chữa lại các huyền thoại như Xénophone, Platon chê Homère, như Khổng Tử san định Thi, Thư, gọt rũa lại những truyện Nghiêu, Thuấn, Vũ, như Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp kể lại những sự tích u linh quái dị ở Việt Nam, nhưng chỉ ghi những vĩ tích được coi là “thông minh chính trực” theo quan niệm của nhà nho.

    Nhưng các huyền thoại, công trình sáng tác chung của dân tộc từ thuở sơ khai, đâu có thể cho một vài cá nhân phán xét và sửa chữa được ? Huyền thoại chính là lịch sử linh thiêng của dân tộc, là lý do của nền văn hóa, là chân lý tối cao của cuộc sống, là di ngôn của tổ tiên để lại cho muôn đời về sau. Những người sửa lại huyền thoại không những đã làm mất một sự bi hùng chứa đựng trong những huyền thoại, mà còn phá hủy những cơ cấu khả dĩ giúp ta hiểu được một phần nào những ký hiệu và tượng trưng mà người xưa muốn truyền lại cho ta.

    Khi sưu tầm những huyền thoại do dân gian truyền lại để viết Lĩnh Nam Chích Quái Trần Thế Pháp, vào khoảng thế kỷ thứ XIV, XV đã tự ý bỏ bớt đi tất cả những truyện của thời khai thiên lập địa và không nói gì đến trận Hồng thủy, chỉ vì vào thời ấy thì các nhà nho của ta đã hoàn toàn tin theo những thuyết của Trung hoa ghi lại trong kinh Thư và kinh Thi mà cho rằng miền Nam Ngũ Lĩnh không bị nạn Hồng thủy. Lại sửa chữa lại một vài điểm trong thần thoại cho văn vẻ, trái bầu thì đổi là cái bọc hay “bào” theo chữ Hán, và dùng những chữ “quân”, chữ “cơ” để nói rằng người thần đất Lạc là một người lãnh đạo (quân), đã lấy một cô gái đất Âu (cơ). Nhưng rồi đời sau người ta tưởng rằng đây là những tên người thật ! Cứ theo những thần thoại cổ thì Lạc Long, hay vị tổ đời thứ nhất của dân tộc, tất phải là một người đầy trí đức, đã được Trời cứu khỏi nạn Hồng thủy để lập nên một nước mới. Theo truyền thuyết của Trung hoa thì trận Hồng thủy xẩy ra cuối đời vua Nghiêu đến đời vua Thuấn thì ông Vũ mới bình trị được. Kinh Thư còn có câu : “Hồng thủy ngất trời ! Mênh mông bọc núi, trùm gò ! Dân dưới mê man chìm đắm”. Như vậy thì nói rằng Lạc Long Quân cùng thời với vua Nghiêu, và là cháu của Thần Nông cũng không phải là sai lắm”

    (*) Trần Ngọc Ninh, “Huyền Thoại Việt Nam”, Tân văn 13 (tháng 5, 1969), 2-5.

    Chúng ta không phủ nhận những nhận xét tổng quát của giáo sư Trần Ngọc Ninh. Quả thực dân tộc ta khi đi xuống miền đồng bằng, gần bờ biển mở rộng vòng tay đón nhận nhiều dòng văn hóa dị biệt, và đặc biệt chịu áp lực nặng nề văn hóa Trung quốc trong suốt ngót một ngàn năm Bắc thuộc.

    Trong khi đó kho tàng thần thoại của đồng bào miền núi vẫn giữ được trọn vẹn bản sắc khởi nguyên không bị pha trộn. Sở dĩ vậy, nguyên do vì :
    - Vị trí núi cao rừng rậm cách biệt.
    - Nếp sinh hoạt của đồng bào miền núi cho đến nay cũng không khác mấy với thời đại đồ đá; nhưng sắc thái tập tục tín ngưỡng vẫn còn nguyên vẻ đơn sơ chất phác.
    - Hầu hết dân tộc miền núi cho đến nay vẫn không có chữ viết, thần thoại đều do những bài ca truyền tụng lại bằng tiếng nói cổ truyền có vần, có điệu dễ nhớ, và được quý trọng như những sản phẩm thiêng liêng. Người ta hát thần thoại trong những buổi tế lễ, ca ngợi những lực lượng siêu nhiên, kể lại những sự tích xa xưa của các vị thần, các anh hùng dũng sĩ, không ai dám thêm bớt, sửa đổi một tiếng.

    Hãy trở lại với thần thoại Việt nam với lời “kết tội” các nhà nho xưa của giáo sư Trần Ngọc Ninh. Liệu có thực tác giả tiền nhân Trần Thế Pháp đã tự ý lược bớt phần khai thiên lập địa trong có truyện Hồng thủy? Thực ra nhìn và đồ biểu, chúng ta thấy thần thoại Mường và thần thoại Phủ nội cũng không kể nạn Hồng thủy. Đặc biệt thần thoại Mường rất gần với Việt nam (cùng một dòng trăm trứng chia đôi, nửa xuống xuôi, nửa ở lại miền ngược), lại thêm phần đảm bảo giữ được mục diện cổ sơ, vì là thần thoại miền núi. Có phải vì đồng bào Mường ở miền cao hơn nên hình ảnh nước chỉ thoi thóp rất nhẹ trong huyền thoại Lang Đa Cần trong cuộc du hành có gặp con gái thần Nước, yêu cầu nàng theo mình làm vợ, xong thình lình nàng biến mất. Còn người Việt ở dưới đồng bằng, nên có huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh. Nạn nước lớn trong huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh chỉ là nhắc nhở nạn lụt hằng năm tại miền châu thổ sông Nhị, cũng như huyền thoại vua Vũ trị thủy (cũng là trị lụt) miền trung châu sông Hoàng Hà vào thuở nhân gian đương được ổn định, chớ không phải thứ hồng thủy thuở khai thiên lập địa. Loại hồng thủy này, thần thoại Trung Hoa cũng không có.

  5. #5
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Vấn đề huyền thoại ông đùng bà đà

    VẤN ĐỀ HUYỀN THOẠI ÔNG ĐÙNG BÀ ĐÀ

    Ông Hoàng Trọng Miên, tác giả “Việt Nam Văn Học Toàn Thư ”, xếp truyện này vào loại truyện cổ tích, nhưng giáo sư Trần Ngọc Ninh chủ trương đây chính là di tích một thần thoại tiền sử của ta. Trước hết chúng ta hãy đọc qua nội dung truyện :

    Ông Đùng Bà Đà *

    Ngày xưa, ở làng Đậu An, huyện Tiên Lữ, thuộc tỉnh Hưng Yên, có một nhà kia sinh ra một người con trai và một người con gái thân hình to lớn khác thường, tên là Đùng và Đà. Hai anh em, cha mẹ mất sớm, đến tuổi lập gia đình không lấy được ai vì cơ thể khổng lồ của hai người. Một hôm, hai anh em bảo nhau bỏ nhà ra đi, hễ ai gặp ai đầu tiên thì lấy người đó làm vợ, làm chồng. Người anh trai và người em gái đi mãi không gặp không gặp được ai, rồi lại quanh quẩn lại gặp nhau, nghĩ ý trời định thế bèn kết làm vợ chồng.

    Hai người ăn ở với nhau được ít lâu thì làng xóm hay, cho là đôi lứa loạn luân, phạm đến phong tục cổ truyền, rồi đập chết cả đôi vợ chồng anh em ruột. Tương truyền rằng hồn hai người chết cứ hiện ra quấy rối làng xóm, gây nhiều tai ách liên tiếp làm cho mọi người đều sợ hãi. Dân làng bèn lập đền thờ để chuộc tội đã làm thiệt mạng hai anh em. Chỗ thờ Ông Đùng Bà Đà có vẽ hình sinh thực khí to lớn ** của hai người, ngày nay còn vết tích ở địa phương nói trên. Mỗi năm cứ đến ngày mồng tám tháng tư âm lịch, dân làng Đậu Anh làm lễ rước ông Đùng, bà Đà tượng hình thành hai người đàn ông, đàn bà với cơ thể khổng lồ bằng tre đan.

    Đám rước chia ra hai phe, một bên rước ông Đùng, một bên rước bà Đà, dân làng đi rước đều cầm đuốc, vác gậy, bắt đầu ra đi vào lúc xế chiều rồi vòng quanh làng cho đến gần đền thờ thì trời vừa tối, đôi bên gặp nhau, nổi tiếng hò reo xung đột. Cuộc ẩu đả diễn ra, đến khi đập phá nát hai hình thể ông Đùng bà Đà, người ta bèn chất lên rồi châm lửa đốt. Đèn đuốc trong đền thờ đều tắt ngấm khi hai phe rước ông Đùng và bà Đà gặp nhau. Tục lệ cho phép những trai gái dự trong đó được tự do đùa nghịch với nhau. Người ta tin rằng có như thế thì trong làng năm ấy mùa màng mới tươi tốt và tránh được các thiên tai.

    Có thuyết cho là trước đây dưới thời đô hộ của quân Tàu, trai gái trong làng này phần lớn bị giết hoặc bị bắt đi, mới sinh ra nạn trai thiếu gái thừa. Sợ dân làng rồi tuyệt giống, người ta bày ra tục cho phép tự do chung chạ trong lễ rước ông Đùng, bà Đà để làng chóng có đông dân số.


    Nhìn vào đồ biểu (tr 19-21), hầu hết các thần thoại đều có lối hôn phối chẳng đặng đừng này để duy trì nhân loại. Nhìn rộng ra thần thoại Trung Hoa có Nữ Oa kết hôn cùng anh (Phục Hy ?), rồi dùng đất hoàng thổ nặn ra người; thần thoại Hy Lạp, thần Zesus, đứng đầu chư thần, kết hôn với Hera là em gái; thần thoại Polynêsie Tane và Hine trầm trọng hơn : thần Sáng tạo Brahmâ đã phối hợp vớ Ushas (Rạng Đông) mà sinh ra Manu, tổ của loài người và muôn vật; Ushas chính là con gái của Thần !

    Kín đáo hơn thì như thần thoại Lô lô, Thượng đế dùng đất nặn ra thần Nam và thần Nữ nhưng chính hai vị thần này cũng đã coi nhau như anh em, và khi muốn lấy nhau đã phải bốn lần thử lòng giời, bằng cách lăn đá, lăn sàng, tung giày và đốt lửa.

    Thần thoại Do Thái thì Eva được tạo ra bằng một cái xương sườn của Adam.

    Văn vẻ hơn cả là cách giải thích của triết học Upanishad :

    “Lúc khởi thủy, thế giới này chỉ là Ngã mang hình người. Nhìn xung quanh mình, Ngã không thấy có gì khác hơn là mình. Ngã bèn nói lời đầu tiên : “Ta hiện hữu”. Do đó có danh xưng ngôi thứ nhất là Ta …

    “Ngã lúc ấy thực không được vui. Bởi vậy người cô độc không bao giờ vui. Ngã muốn có người thứ nhì. Ngã bèn lớn lên bằng một người đàn bà và một người đàn ông ôm chặt lấy nhau. Do đó có chồng vợ và ra loài người.

    “ Người đàn bà nghĩ : “Chàng tự phân mình làm ra ta, làm sao chàng có thể chung đôi với ta. Vậy ta hãy ẩn thân đi”. Nàng biến thành con bò cái. Chàng biến thành bò đực… do đó sinh sản ra loài bò. Nàng biến thành ngựa cái, chàng biến thành ngựa đực, do đó động vật một móng sản sanh. Nàng biến thành dê cái, chàng biến thành dê đực. Nàng biến thành cừu cái, chàng biến thành cừu đực, và do đó sinh ra loài dê, cừu. Cứ như thế Ngã tạo ra muôn loài có đôi cho đến tận loài kiến.

    “Ngã tự nhủ : Quả thật là ta sáng tạo vì ta tạo ra muôn vật. Bởi thế Ngã là sáng tạo. Người nào biết điều đó cũng trở thành đấng sáng tạo” ***

    Nhìn qua khía cạnh triết học của Upanishad thì hành vi sáng tạo nguyên thủy đó cao quý như vậy, nhưng nhìn vào thần thoại của hầu hết các nước, hành vi hôn phối đó vẫn để lại những dấu bẽ bàng của tội lỗi nguyên thủy.

    Trong truyền thuyết của ta, ông Đùng, bà Đà là hai anh em có tầm vóc khổng lồ, đúng là giống người của thời huyền thoại. Chính vì vậy mà giáo sư Trần Ngọc Ninh coi huyền thoại này như một trong những mảnh vỡ còn sót lại của thần thoại tiền sử dân tộc.

    Chúng tôi xin “nghi dĩ truyền nghi”.

    Sau khi đã nêu và giải quyết tổng quát một số vấn đề, giờ đây chúng ta hãy thực sự du ngoạn vào thế giới thần thoại của ta và một số thần thoại của đồng bào miền núi.

    Kể lại những thần thoại ấy, soạn giả đã căn cứ vào những tài liệu :
    - Việt Nam Văn Học Toàn Thư , 2 quyển, của Hoàng Trọng Miên (lược bỏ những phần rõ rệt mang dấu vết lai Trung Hoa)
    - Việt Điện U Linh Tập, bản dịch Lê Hữu Mục.
    - Lĩnh Nam Chích Quái, bản dịch Lê Hữu Mục.
    - Nam Hải Dị Nhận, của Phan Kế Bính.

    Trong phần chú thích và bình luận, soạn giả sẽ nhắc nhở nhiều đến thiên khảo luận “Huyền thoại Việt nam” đã dẫn của giáo sư Trần Ngọc Ninh.

    Đây chính là chủ trương của soạn giả. Căn cứ vào tình hình tài liệu in của nước nhà, một nước miền nhiệt đới, nắng mưa làm mục nát sách vở; một nước ở ngã ba đường văn hóa, chịu cảnh đầu sóng ngọn gió, chiến tranh liên miên thiêurụi biết bao kho tàng văn hóa, nên những tài liệu in đi sau nên đúc kết tất cả tinh hoa những tài liệu in đi trước. Với những nước thái bình thịnh trị, thư viện nhiều, giữ gìn cẩn thận, việc làm đó còn chưa hẳn là một việc thừa, huống chi lại ở vào hoàn cảnh nước nhà. Chính tác phẩm này soạn giả cũng mong sẽ được là bực thang để những tác phẩm biên khảo sau dẫm lên mà đúc kết được đầy đủ hơn. Chiến thuật biên khảo của hoàn cảnh xứ sở mình nên như vậy, một mặt mỗi công trình biên khảo vẫn giữ một cá tính riêng; mặt khác, đứng ở một phương diện nào, công trình biên khảo đó nên là hình ảnh một trái banh tuyết – boule de neige – lăn cuộn với thời gian và cùng lớn lên với thời gian.

    Một lần nữa soạn giả ghi lời tri ân tới các tác giả và dịch giả Hoàng Trọng Miên, Lê Hữu Mục, Trần Ngọc Ninh mà tác phẩm của các vị là nguồn nguyên liệu đúc kết của tác phẩm này.

    Thần thoại Thượng Đế Sáng Tạo Vũ Trụ hay Thủy Tổ Giòng Giống Hồng Thủy Anh em lấy nhau Tháp, Cây, Cột chống trời
    Việt Lạc Long Quân + bà Âu Cơ. Bọc 100 trứng nở ra 100 con. Không có (nhưng có truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh). Ông Đùng bà Đàn Thần Trụ Trời. Núi Tản Viên.
    Mường Đôi chim thành người Ay và Ua. Đẻ 100 trứng , nửa về đồng bằng (Kinh), nửa ở lại (Thượng) Không có (nhưng có truyện Lang Đa Cần muốn lấy con gái thần Nước) Lang Đa Cần lấy em là Nường Kịt Huyền thoại cây Chu Đồng cao tới trời, mọc ở phương Tây.
    Mèo Chữ Làu là Thượng đế sáng tạo ra trời đất trong 7 ngày, lấy đất nặn ra 2 người đầu tiên. Hồng thủy Hai chị em sống sót, lấy nhau sinh ra một quả trứng đem cắt, mỗi miếng thành một người. Dân chúng định xây tháp cao để lên vườn thiên đàng Giu giang Ka trên trời.
    Phủ nội **** (một sắc dân ở khoảng địa bàn Điện Biên Phủ) Con trai và 2 con dâu Ngọc Hoàng xuống trần. Chặt cây Ton-Hai có 2 quả bầu. Từ những quả bầu ra các giống người. Không có Không có Cây song Khưa-khao-cát nối liền trời đất
    Thái Tao Suông và Tao Ngân được trời gửi xuống sau Hồng Thủy mang theo 8 trái bầu và 8 gậy đồng Sao-cam-pha (gậy chống trời). Trong ruột những trái bầu có 330 giống người và 330 giống lúa. Hồng thủy Không có Cây song lớn Chuốc-khao-cát thông liền trời đất.
    Mán Nhiêu vương (Ngọc Hoàng) Bàn Cổ. Loài người do tâm của Bàn Cổ sinh ra. Hồng thủy Hai anh em Phu Hay sống sót sau nạn Hồng thủy, lấy nhau, sinh ra 1 quả bầu, mỗi hạt gieo xuống thành 1 người. Không có
    Khả Hai anh em lấy nhau sinh ra quả bầu, là thủy tổ các giống người. Hồng thủy Hai anh em sống sót sau Hồng thủy, lấy nhau, sinh ra 1 quả bầu.Từ đó chui ra các giống người. Không có
    Lô lô Kết dơ (Thượng đế) tạo ra đất, rồi cũng Ga-gie mượn đất của thần Đất nặn ra người Nam và người Nữ. Hai người tự cho là anh em nhưng vẫn phải lấy nhau sinh ra một quả bầu đầy hột; mỗi hột thành một giống người. Hồng thủy Một nhà có ba anh chị em. Người em út và người chị sống sót sau nạn Hồng thủy (Chắc rồi cũng lấy nhau như thần thoại trên) Không có

    (*) Theo Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Học Toàn Thư II, Cổ tích (Saigon, 1959), tr 78.
    (**) Liệu có chịu ảnh hưởng gì về nghi lễ thờ hai vợ chồng thần Shiva và Parvâti của Ấn độ, thờ dưới hình thức hai sinh thực khí linga và yoni?
    (***) Bridád-âranyaka, I,4 (xin đọc : Lê Xuân Khoa, Nhập Môn Triết Học Ấn Độ, Saigon : Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1965, chương “Upanishad”, tr 124-73).
    (****) Phủ nội cũng viết là P’u Noi. Tên đầy đủ là Kha P’ai P’u Noi. Tiếng Lào P’u Noi có nghĩa là “núi nhỏ”. Về sau người ta có khuynh hướng muốn hiểu chung là “những người ở miền núi nhỏ”. (Xin đọc Colonel Henri Roux, “Quelques Minorités Ethniques du Nord Indochine”, France-Asie 92-93 (Janvier-Février, 1954.)

  6. #6
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Thần thoại việt nam - trời

    THẦN THOẠI VIỆT NAM

    TRỜI

    Ngày xưa, trước tất cả mọi sự, đã có ông trời. Trời là một bậc quyền phép vô song ở trên cao, làm ra tất cả : trái đất, núi non, sông biển, mưa, nắng. Trời sinh ra tất cả loài người, muôn vật, cỏ cây …

    Trời thấy tất cả, biết hết mọi sự xảy ra ở thế gian. Trời là cha đẻ muôn loài, xét đến muôn việc, thưởng phạt không bỏ ai, không ai tránh khỏi lưới trời, mọi việc đều do trời định. Do đó, mà con người tin có đạo Trời, và thường nói Trời sinh Trời dưỡng và đến khi chết thì về chầu Trời.

    Trời cũng có vợ, gọi là bà Trời và mỗi khi hai ông bà giận dỗi nhau là lúc trời vừa mưa vừa nắng. Mỗi lúc Trời giận loài người lầm lỗi ở thế gian, thì giáng xuống thiên tai : bão táp, lụt lội, hạn hán …

    Giang sơn của Trời là từ mặt đất lên đến trên cao, có chín tầng trời.

    Từ sau khi chịu ảnh hưởng văn hóa Trung quốc, ông Trời Việt nam cũng được gọi là Ngọc Hoàng cho văn vẻ.



  7. #7
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Mặt trời và mặt trăng

    MẶT TRỜI VÀ MẶT TRĂNG

    Mặt Trời và Mặt Trăng là hai chị em, con của Trời. Công việc của Trời giao phó cho hai cô con gái là hàng ngày phải thay phiên nhau đi xem xét thế gian. Cô chị Mặt Trời ngồi kiệu có bốn người khiêng đi. Bọn khiêng kiệu gồm có hai lớp già và trẻ thay phiên nhau. Gặp phải bọn khiêng kiệu già đi chậm, cô Mặt Trời phải ngồi lâu, ngày ở dưới trần hóa dài ra. Đến lượt bọn trẻ khiêng kiệu đi mau, cô Mặt Trời được chóng công việc về sớm thì ngày ngắn lại.

    Cô em Mặt Trăng tính tình nóng nảy không kém gì cô chị làm cho thiên hạ ở mặt đất suốt cả ngày đã phải nóng bức vì cô chị , đến đêm lại cũng phải khó chịu vì cô em. Loài người than thở đến tai nhà Trời. Bà mẹ mới lấy tro trát vào mặt cô Mặt Trăng.Từ đó cô em đổi tính ra hết sức dịu dàng, khác hẳn với cô chị, nên được người dưới trần ai cũng thích. Mỗi khi cô ngoảnh mặt xuống trần là lúc đó trăng rằm. Ngoảnh lưng lại là ba mươi; ngoảnh sang phải, sang trái là trăng thượng huyền hay hạ huyền. Hôm nào trăng quầng là lúc vết tro trát mặt hiện ra.

    Người ta nghe nói rằng chồng của hai nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là một con gấu. Mỗi lần Gấu đến với vợ là sinh ra nguyệt thực hay nhật thực. Lúc đo người dưới trần làm ầm ĩ lên, đánh trống, khua chiêng, gõ mõ, để cho gấu ra xa vì gấu đi lại với vợ, che lấp Mặt Trời, Mặt Trăng, làm hại cho mùa màng.

  8. #8
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Thần trụ trời

    THẦN TRỤ TRỜI

    Thuở trời đất còn mịt mù hỗn độn, tự nhiên hiện lên một vị thần to lớn khác thường, đầu đội trời, chân đạp đất, đào đất, vác đá đắp thành một cái cột to cao để chống trời lên, mà phân chia ra trời đất. Trời như một cái vung úp, đất bằng như một cái mâm vuông, chia ra làm bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Chỗ giáp giới trời đất gọi là chân trời.

    Khi đã chống trời lên cao rồi, thần phá bỏ cột trụ đi, ném tung vãi đất và đá khắp tứ phía làm thành những đồi, núi, đảo khiến mặt đất hóa ra chỗ cao chỗ thấp. Còn chỗ thần đào đất để đắp cột chống trời về sau đầy nước thành biển.

    Dấu vết cột chống trời ngày nay người ta cho là ở núi Thạch Môn thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt, cũng gọi là núi Không Lộ (đường lên trời), hay Kình Thiên Trụ (cột chống trời).

    Dân chúng còn có câu hát lưu hành nhắc nhở đến công việc của ông Trụ Trời vào thuở khai thiên lập địa :

    Nhất ông đếm cát,
    Nhì ông tát bể,
    Ba ông kể sao,
    Bốn ông đào sông,
    Năm ông trồng cây,
    Sáu ông xây rú,
    Bảy ông trụ trời.

    Chú thích : Theo giáo sư Trần Ngọc Ninh (Bài báo đã dẫn), thì bài đồng dao trên đây là nói ông Trời hay đấng tạo hóa của người Việt đã làm ra cõi thế với bảy công trình được tuần tự thực hiện trong bảy ngày như vậy.



  9. #9
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Sáng tạo vạn vật

    SÁNG TẠO VẠN VẬT

    Sau lúc dựng xong vũ trụ, ông Trời bắt đầu tạo ra vạn vật. Tương truyền rằng ban đầu Trời dùng những chất cặn còn sót lại trong trời đất mà nặn ra đủ mọi giống vật, từ những con to lớn đến những con bé nhỏ như sâu bọ. Sau đó, Trời mới gạn lấy chất trong để nặn con người. Do đó mà loài người khôn hơn các giống vật.

    Về công việc nặn ra người, Trời giao cho mười hai nữ thần khéo tay mà hạ giới vẫn gọi là mười hai bà mụ. Mười hai bà mụ mỗi người làm một công việc khác nhau. Bà nặn tay nặn chân, bà nặn tai, bà nặn mắt, bà nặn cơ quan sinh dục, bà dạy bò dạy lật, bà dạy nói dạy cười. Vì có bà mụ đãng trí nên giống người có kẻ á nam, á nữ vì thiếu mất sinh thực khí.

    Khi sáng tạo ra loài người, Trời có ý định cho họ sống mãi khỏi phải chết, hễ đến già rồi thì nằm yên một nơi trong ít lâu tự nhiên lớp da ngoài thay đổi, bỏ lốt già đi mà hóa lại trẻ, trái hẳn với giống rắn, vì bản chất độc ác nên chỉ sống đúng tuổi rồi phải chết. Một vị thần được phái xuống hạ giới để thi hành việc đó không ngờ lại gặp nhằm loài rắn trước. Lũ rắn biết được sứ mạng của thần là xuống tuyên án chết cho loài chúng nên mới rủ nhau lại hàng vạn con xúm vây lấy sứ nhà Trời, nhất quyết bắt thần phải nói lại : “Rắn già rắn lột, người già người tuột vào săng”. Nếu không thì lũ rắn quyết một mất một còn với thần. Thấy lũ rắn dữ tợn chỉ chực hại mình, thiên sứ đành phải nghe lời chúng. Do đó mà loài rắn được lột xác sống mãi, còn loài người đến khi già phải chết.

    Khi Trời hay tin, giận thiên thần đã làm trái với ý định của mình, mới đày xuống hạ giới làm kiếp bọ hung.

  10. #10
    Avatar của m_m
    m_m
    m_m Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    3,241
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 3 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Tu bổ các giống vật

    TU BỔ CÁC GIỐNG VẬT

    Sau khi đã tạo ra vạn vật và con người, Trời thấy còn có sự thiếu sót ở các giống vật nên sai ba vị thần xuống hạ giới để bù đắp cho các giống vật nào cơ thể còn chưa được đầy đủ. Các giống vật hay tin đua nhau đến để xin thần nhà trời tu bổ cho các chỗ thiếu sót cần thiết.

    Khi đã phân phối mọi vật liệu cho các giống vật vừa hết thì có con chó và con vịt cùng đến một lần xin mỗi con một cẳng thiếu, vì chó mới có ba chân, vịt chỉ mới có một từ lúc Trời sinh ra. Thần hết cả vật liệu, kiếm cách từ chối. Song thấy hai con vật van nài quá, thần mới bẻ tạm chân ghế chắp cho chân sau con chó bị thiếu và lấy que cây chắp cho chân con vịt rồi dặn chó và vịt khi nào ngủ nhớ giơ cẳng chắp lên, chớ để xuống đất sợ hư đi. Chó và vịt lạy tạ ra về. Tuân theo lời thần dặn, từ đó lúc nào đi ngủ, hai giống vật này cũng đều co một cẳng lên trên không.

    Các thần đang sửa soạn về trời thì bỗng có mấy loại chim chiền chiện, chìa vôi, ốc cau, mỏ nhác … cùng đến một lúc kêu nài vì nỗi Trời đã nặn chúng thiếu mất cả hai chân. Ba thần thoạt cũng từ chối, lấy cớ là đã hết vật liệu đem theo, song lũ chim một mực nài nỉ, bảo rằng vì chúng không có chân nên đến chậm, cố khẩn cầu thần giúp cho. Một vị thần thấy gần đó có bình hương mới bẻ lấy một nắm chân hương làm cho mỗi con chim một cặp chân. Thấy đôi chân mong manh quá, chim kêu lên : “Trời ơi ! Trông que nhang thế này thì đậu làm sao được!”. Thần bèn khuyên bảo : “Không việc gì đâu, cứ chịu khó giữ gìn một chút là được. Khi nào muốn đậu thì hãy đặt nhớm chân xuống đất xem có vững không đã rồi hãy đậu.” Do đó mà về sau các giống chim này cứ chới với nhún hai ba lần thử đặt chân trước rồi mới đậu.

Trang 1 của 7 123 ... CuốiCuối

SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.