Tìm hiểu về bệnh vô sinh

Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Avatar của vhttuvan33
    vhttuvan33 Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    6
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Smile Tìm hiểu về bệnh vô sinh

    Bệnh vô sinh là ?


    Vô sinh được định nghĩa là một cặp vợ chồng sau khi lập gia đình một năm, không sử dụng một biện pháp tránh thai nào, mà vẫn không thể có thai và sinh con được. Thường đến khi đó, người ta mới bắt đầu thăm dò nguyên nhân chậm có thai.

    Tại Việt Nam, do một số điều kiện khách quan và chủ quan trong nhiều năm qua, vấn đề hiếm muộn chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức, nhưng ngày càng trở thành vấn đề lớn ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình.



    Vô sinh được định nghĩa là một cặp vợ chồng sau khi lập gia đình một năm, không sử dụng một biện pháp tránh thai nào, mà vẫn không thể có thai và sinh con được. Thường đến khi đó, người ta mới bắt đầu thăm dò nguyên nhân chậm có thai.

    Ước tính chung, có khoảng 10% các cặp vợ chồng là có vấn đề về vô sinh. Theo FIGO 1990, vô sinh nguyên phát chiếm khoảng 3%, tuy nhiên các yếu tố gây vô sinh thứ phát có thể làm tỉ lệ này tăng lên đến 30%. Tỷ lệ vô sinh thay đổi tùy theo xã hội. Ở Việt Nam, theo những số liệu điều tra dân số từ những năm 80, có khoảng 7 đến 10% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh đẻ bị vô sinh. Tỷ lệ vô sinh ngày càng tăng cao vì người phụ nữ ngày càng lập gia đình muộn hơn, trong khi đó tuổi dễ có thai nhất là từ 20 đến 24 tuổi, quá 35 tuổi người phụ nữ khó có thai hơn nhiều.



    Vô sinh là một bi kịch trong đời sống của người phụ nữ. Mặc dù vấn đề này không ảnh hưởng đến tính mạng hay thể chất con người. Người phụ nữ vô sinh phải chịu một tổn thương rất lớn về tâm lý khi không thể thực hiện được thiên chức làm mẹ, ngay cả khi nguyên nhân vô sinh thuộc về người chồng. Quyền được làm mẹ là quyền thiêng liêng của mỗi người phụ nữ bất chấp chủng tộc và nơi sinh sống.



    Tại Việt Nam, do một số điều kiện khách quan và chủ quan trong nhiều năm qua, vấn đề hiếm muộn chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức, nhưng ngày càng trở thành vấn đề lớn ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình.
    Vô sinh còn là một trong những vấn đề hàng đầu trong chiến lược về Sức khỏe sinh sản của Tổ chức Y tế Thế giới. Dự phòng và điều trị vô sinh hoàn toàn không đối lập với Kế hoạch hóa gia đình (KHHGÐ) vì mục đích cuối cùng của chương trình KHHGÐ là đem lại cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc cho mỗi gia đình. Trên quan điểm này, việc dự phòng và điều trị vô sinh được xem là một bộ phận của chương trình KHHGÐ.

    Nguyên nhân:

    Trong các nguyên nhân dẫn đến vô sinh, nguyên nhân do vòi trứng chiếm tỷ lệ lớn vì tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục cao, có thể là do phong tục tập quán, điều kiện khí hậu và thói quen sinh hoạt.. Mặt khác, việc nạo phá thai và đặt dụng cụ tử cung không đảm bảo vô trùng cũng là những yếu tố góp phần là gia tăng tỉ lệ vô sinh thứ phát.
    Theo số liệu năm 1996, tại BV Phụ sản Từ Dũ, trong số 11.481 cặp vợ chồng đến khám và điều trị vô sinh, có 33,4% trường hợp vợ bị tắc vòi trứng, 22,6% trường hợp chồng có tinh trùng yếu hoặc ít, 3,8% vô sinh không rõ nguyên nhân, không đáp ứng với các phương pháp điều trị hiện tại. Ða số các trường hợp này cần can thiệp bằng thụ tinh trong ống nghiệm để họ có cơ hội có con.


    Các nguyên nhân vô sinh thường gặp


    Vô sinh do nam
    -khoảng 30 -40%


    Không rụng trứng
    -khoảng 20 -40%, tùy theo lứa tuổi

    Vòi trứng tắc nghẽn
    -khoảng 30 -40%

    Lạc nội mạc tử cung
    -khoảng 10 -20%

    Do cổ tử cung
    -khoảng 5%

    Không rõ nguyên nhân
    -khoảng 10%


    Thụ tinh trong ống nghiệm

    Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) (In vitro fertilization) là phương pháp cho giao tử của chồng (tinh trùng) và giao tử của vợ (trứng) gặp nhau và thụ tinh bên ngoài cơ thể, sau đó chuyển hợp tử hoặc phôi vào buồng tử cung người mẹ, thường được thực hiện vào ngày thứ 2 sau khi cấy.

    Việc thụ tinh giữa trứng và tinh trùng người bên ngoài cơ thể được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1969 do R.G. Edwards. Cũng chính Edwards và Steptoe đã báo cáo trường hợp TTTON đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1978 ở Anh trên một bệnh nhân bị tắt vòi trứng hai bên. Sau đó, phương pháp này lần lượt được thực hiện thành công ở Úc, Mỹ, Ðức, Pháp... Vào lúc này, TTTON được thực hiện ở chu kỳ tự nhiên, không dùng thuốc. Xác định thời điểm chọc hút trứng bằng cách định lượng estradiol và LH và được thực hiện qua nội soi trước thời điểm dự đoán rụng trứng.

    Năm 1981, Alan Trouson thành công trong việc sử dụng các thuốc kích thích buồng trứng phối hợp với TTTON làm tăng số trứng có được trong mỗi chu kỳ và giúp dự đoán thời điểm rụng trứng dễ dàng hơn (Trouson và cộng sự 1981). Ðiều này làm tăng tỉ lệ thành công của các chu kỳ TTTON lên rất nhiều. Từ đó đã có nhiều cải tiến trong phác đồ kích thích buồng trứng giúp tăng số nang noãn trưởng thành và tạo đáp ứng thuận lợi ở nội mạc tử cung để làm tổ cho phôi.

    Ban đầu, TTTON chỉ thực hiện cho các trường hợp bị tắt vòi trứng, sau đó được mở rộng cho các chỉ định khác và đạt được nhiều thành công. Năm 1980, TTTON thành công trên một trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân (Lopata và cộng sự 1980). Năm 1983, một trường hợp vô sinh do lạc nội mạc đơn thuần được báo cáo thành công với TTTON (Mahadevan và cộng sự 1983).

    Việc chọc hút trứng đầu tiên được thực hiện qua nội soi bụng. Năm 1981, Lenz và cộng sự thực hiện hút trứng dưới hướng dẫn của siêu âm bụng. Năm 1984, Dellenbach và cộng sự thực hiện kỹ thuật chọc hút trứng qua ngã âm đạo với sự hướng dẫn của siêu âm bụng. Ðến năm 1985, Wikland và cộng sự chọc hút trứng với kim gắn đầu dò âm đạo. Từ đó, phương pháp này được áp dụng rộng rãi và việc chọc hút trứng trở thành một thủ thuật đơn giản, ít biến chứng, càng mở rộng khả năng ứng dụng của TTTON.

    Tuy nhiên, TTTON vẫn còn bó tay với những trường hợp vô sinh do nam nặng, thiểu tinh nặng, hay bất thường về thụ tinh. Năm 1991, Ng và cộng sự báo cáo trường hợp SUZI (Sub-Zona Insemination) thành công đầu tiên trên thế giới bằng cách tiêm nhiều tinh trùng vào khoang quanh noãn

    .


    Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (Intra-Cytoplasmic Sperm Injection- ICSI) ra đời là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh do nam giới và những bất thường về thụ tinh. Kỹ thuật ICSI, tiêm một tinh trùng trực tiếp vào bào tương trứng, được báo cáo thành công lần đầu tiên năm 1992 tại Bỉ (Palermo và cộng sự, 1992) càng thúc đẩy sự phát triển của kỹ thuật này, do kết quả ban đầu rất khả quan trong khoảng 8 năm gần đây.
    ICSI giúp làm tăng tỉ lệ thành công, trong khi không ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi (Palermo và cộng sự, 1993).

    Một báo cáo còn cho thấy phôi phát triển từ kỹ thuật ICSI, kỹ thuật ICSI có thể có tỉ lệ làm tổ cao hơn phôi bình thường (Van Steirteghem và cộng sự 1993). Theo đà phát triển nhanh về số lượng cũng như về chất lượng của kỹ thuật TTTON trên toàn thế giới, kỹ thuật ICSI ra đời từ năm 1992 đã ngày càng được áp dụng rộng rãi, như một biện pháp hỗ trợ cho việc thụ tinh của trừng và tinh trùng. ICSI cho đến nay đã trở thành kỹ thuật phổ biến, không thể thiếu ở hầu hết các trung tâm TTTON trên thế giới.


    Hiện nay kỹ thuật ICSI đã được ứng dụng tại hầu hết các trung tâm TTTON trên thế giới. Ở nhiều trung tâm ICSI đã chiếm hơn 50% các trường hợp TTTON. Tại Ðông Nam Á, ICSI đã được báo cáo thành công vào năm 1993 ở Singapore (đầu tiên ở Châu Á) và đã trở thành kỹ thuật phổ biến ở các trung tâm TTTON trong khu vực như Singapore, Thailand.

    TTTON đã trở thành phương pháp điều trị phổ biến ở hầu hết các trung tâm Sản Phụ khoa trên thế giới. Người ta ước tính số trẻ sinh ra bằng phương pháp TTTON cho đến nay đã vượt qua con số triệu. Chỉ riêng ở Mỹ, đã có trên 300.000 trẻ sinh ra nhờ TTTON, năm 1995 đã có 59.142 trường hợp TTTON(4) và năm 1996 có đến 64.036 trường hợp.(5) Ở Pháp, trong năm 1993 có 23.025 trường hợp TTTON.

    Theo một thống kê chưa đầy đủ của Hội Phụ Sản Châu Á - Châu Ðại Dương, trong năm 1992, đã có 47.995 trường hợp TTTON đã được thực hiện trong vùng (Các con số này cho đến nay còn tăng hơn nhiều). Ở khu vực Ðông Nam Á, TTTON đã được bắt đầu từ nhiều năm nay ở Singapore (1983), Malaysia, Indonesia, Thailand, Philipines.



    Lần sửa cuối bởi vhttuvan33, ngày 04-03-2010 lúc 03:39 PM.

  2. #2
    Avatar của vhttuvan33
    vhttuvan33 Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    6
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định 7 bước điều trị thụ tinh ống nghiệm của bệnh viện Piyavate

    Phương pháp nuôi và cấy túi phôi (Blastocyst Culture) của bệnh viện đa khoa quốc tế Piyavate tại Thái Lan


    Phôi được chuyển bằng một ống đầu dò plastic mỏng qua cổ tử cung vào ổ tử cung nhờ kỹ thuật siêu âm dẫn đường. Các túi phôi sẽ được đặt ở một vị trí tốt nhất trong ổ tử cung và ống được nhẹ nhàng rút ra. Thông thường thủ thuật này không gây đau đớn và bệnh nhân cần nằm nghỉ trong 2 giờ và sau đó được nằm viện thêm 24 giờ nữa



    Bước 1: Tư vấn và xét nghiệm :

    Lần khám thứ 1



    Nữ:
    • Thử máu (Viêm gan siêu vi A, đề kháng viêm gan siêu vi B, Anti-HIV, bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh sởi, công thức máu, xét nghiệm nhóm máu, HB-typing)
    • Phác đồ hócmôn (FSH, LH, E2, P4, Prolactin, hCG)
    • Nội soi tử cung (hysteroscopy) +/- Nội soi ổ bụng (Laparoscopy)
    Nam:
    • Thử máu (Viêm gan siêu vi A, đề kháng viêm gan siêu vi B, Anti-HIV, bệnh lây truyền qua đường tình dục, công thức máu, xét nghiệm nhóm máu, HB-typing)
    • Phác đồ hócmôn (FSH, LH, Testosterone)
    • Tinh dịch đồ hoặc lấy tinh trùng từ tinh hoàn
    Ghi chú: Quá trình xét nghiệm mất 1 - 2 ngày
    • Đối với tiến trình nội soi ổ bụng, nội soi tử cung và lấy tinh trùng từ tinh hoàn, bệnh nhân cần phải đặt hẹn trước. Để bảo đảm an toàn cho bệnh nhận, việc nội soi ổ bụng cần phải nhập viện.
    Lần đến khám thứ 2



    Bước 2: Kích thích sự rụng trứng
    • Bắt đầu kể từ ngày kinh nguyệt thứ hai, thuốc Gonal-F được tiêm hàng ngày trong vòng 10 - 14 ngày
    Ghi chú: Bệnh nhân sẽ mang thuốc về nhà sau lần đến khám thứ nhất và có thể đến tiêm thuốc tại phòng khám trong nước.
    • Sau khi tiêm xong 10 liều thuốc Gonal-F, bệnh nhân sẽ được siêu âm để xác định đúng thời điểm của việc lấy trứng.
    Ghi chú: Kể từ lúc này, bệnh nhân sẽ cần phải lưu lại Bangkok trong vòng 3-5 tuần.



    Bước 3: Lấy noãn
    • Sau khi nang được đánh giá là đã sẵn sàng, bệnh nhân ngưng tiêm thuốc Gonal-F. Khoảng 36 giờ trước khi dự định lấy trứng, bệnh nhân sẽ được tiêm một liều Ovidrel để giúp trứng đạt đủ độ trưởng thành.
    • Việc lấy noãn được thực hiện mà không cần phẫu thuật bằng cách sử dụng một đầu dò siêu âm qua đường âm đạo để đưa kim vào buồng trứng. Thủ thuật này được thực hiện bằng cách gây tê tĩnh mạch đơn giản. Vì vậy, quá trình này không hề gây đau và hồi phục nhanh.

    • Tinh trùng của người chồng được lấy cùng vào ngày lấy trứng. Bệnh nhân sẽ được thông báo vài ngày trước thời điểm cần có mặt để lấy trứng và tinh trùng.
    Ghi chú: Việc lấy tinh trùng và giữ đông có thể thực hiện bất cứ ngày nào trước ngày lấy noãn.

    Bước 4: Chuẩn bị nội mạc tử cung và tử cung cho việc chuyển phôi


    • Estrogen và hócmôn dưỡng thai (Progesterone) sẽ được kiểm tra để đảm bảo rằng các điều kiện về nội mạc tử cung và tử cung đã sẵn sàng cho việc cấy ghép.
    • Việc hút dịch bên trong ổ xương chậu là có thể cần thiết trong một số trường bằng cách nội soi ổ bụng để tránh làm hỏng quá trình cấy ghép do nhiễm chất dịch này.
    Ghi chú: Để bảo đảm an toàn cho bệnh nhận, việc soi ổ bụng cần phải nhập viện.



    Bước 5: Nuôi cấy trứng bằng kỹ thuật Blastocyst Culture (túi phôi):
    • Trứng và tinh trùng được thụ tinh trong một môi trường được kiểm soát chặt chẽ. Khoảng 5 - 6 ngày sau khi thụ tinh, phôi sẽ phát triển đến giai đoạn túi phôi (Blastocyst)
    Bước 6: Chuyển túi phôi:
    • Phôi được chuyển bằng một ống đầu dò plastic mỏng qua cổ tử cung vào ổ tử cung nhờ kỹ thuật siêu âm dẫn đường. Các túi phôi sẽ được đặt ở một vị trí tốt nhất trong ổ tử cung và ống được nhẹ nhàng rút ra. Thông thường thủ thuật này không gây đau đớn và bệnh nhân cần nằm nghỉ trong 2 giờ và sau đó được nằm viện thêm 24 giờ nữa.
    Bước 7: Giữ gìn sau khi chuyển túi phôi
    • Bệnh nhân sẽ được sử dụng thuốc hócmôn nhằm mục đích nâng cao tỷ lệ thành công của quá trình cấy ghép.
    • Mỗi 3 ngày, các xét nghiệm hócmôn trong máu sẽ được kiểm tra để theo dõi tình trạng tử cung.
    • 14 ngày sau khi chuyển phôi, xét nghiệm máu sẽ được thực hiện để xác định việc thụ thai. Nồng độ hócmôn mang thai trong máu (hCG) tăng thì chứng tỏ quá trình cấy ghép đã diễn ra.
    • Khoảng 14 ngày sau khi mức hCG đầu tiên thể hiện, bệnh nhân sẽ được thực hiện siêu âm để xác định việc mang thai.
    Chăm sóc tiền sản:
    • Bệnh nhân sẽ được chuyển sang giai đoạn chăm sóc tiền sản sau khi xác định đã có thai.
    Lần sửa cuối bởi vhttuvan33, ngày 04-03-2010 lúc 03:50 PM.

  3. #3
    Avatar của vhttuvan33
    vhttuvan33 Đang Ngoại tuyến Quấn tã
    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    6
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Xu
    0

    Mặc định Bệnh viện đa khoa quốc tế Piyavate

    THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM VÀ LỰA CHỌN CHÍNH XÁC GIỚI TÍNH



    Bệnh viện quốc tế Piyavate Bangkok làmột trong những cơ sở y tế hàng đầu tại vương quốc Thailand, quy tụ hơn 300 chuyên gia và bác sỹ tốt nghiệp tại các trường đại học y khoa danh tiếng tại Mỹ, Anh, Úc, Nhật và Thailand, y tá được đào tạo bài bản và trang thiết bị y tế tiên tiến nhất. Piyavate lànơi cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế tốt nhất mà quý bệnh nhân có thể mong đợi với nhiều chuyên khoa nổi tiếng.


    Trong đó, phải kể đến chuyên khoa Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm theo phương pháp tiên tiến nhất hiện nay: Phương pháp Cấy Túi Phôi - Blastocyst Culture.


    Với việc ứng dụng phương pháp này, giúp cho bệnh nhân đạt tỷ lệ thành công lên đến 50% theo ghi nhận của bệnh viện. Trong khi đó, tỷ lệ thành công ở trong nước chỉ là 25%. Có những bệnh nhân của chúng tôi đã thất bại đến 6 lần khi làm TTTON ở trong nước nhưng khi thực hiện theo phương pháp Blastocyst của bệnh viện Piyavate đạt kết quả thành công mỹ mãn. Hơn thế nữa, Piyavate đã có bệnh nhân TTTON thành công ở độ tuổi cao nhất là 51.


    Đặc biệt, với phương pháp Cấy Túi Phôi - Blastocyst Culture, chúng tôi còn có thể giúp Bệnh nhân lựa chọn giới tính cho Thai nhi và tỷ lệ thành công là 98 - 100%.



    Hãy liên hệ với VHT Travel để được tư vấn chi tiết cho từng trường hợp của Quý khách.


    VHT Travel mong sẽ có nhiều cơ hội được phục vụ Quý khách trong tương lai.

    ---------------------------------------------------------------------------------------

    BỆNH VIỆN QUỐC TẾ PIYAVATE BANGKOK - THAILAND

    Văn phòng tư vấn tại Hà Nội - VHT Travel
    Room 223, 2flr, 33A Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

    Tel: (84.4) 2 2152150 Fax: (84.4) 39335430

    Mobile: (84.4) 097 8 096 279 Ms Kim Thoa

    Yahoo messeger : vhttuvan

    Skype : vhttuvan

    Email: vhttuvan@yahoo.com

    Website: vnholidaytravel.com/piyavate.com
    Lần sửa cuối bởi vhttuvan33, ngày 04-03-2010 lúc 03:48 PM.

Tag của Chủ đề này


SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.