Viêm tiểu phế quản

Kết quả 1 đến 4 của 4
  1. #1
    Avatar của doikocodon
    doikocodon Đang Ngoại tuyến Răng sữa
    Ngày tham gia
    Sep 2009
    Bài viết
    161
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 2 Posts
    Xu
    0

    Exclamation Viêm tiểu phế quản

    Cấp Cứu Nhi Khoa Số 1 (bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh)

    1/ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN LÀ GÌ ?
    - Viêm tiểu phế quản là nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới (phế quản trung bình và nhỏ) do nguyên nhân virus.
    - Trẻ dưới 2 tuổi thường mắc bệnh nhất.
    - Respiratory syncytial virus (RSV) là nguyên nhân trong khoảng 80% trường hợp ; parainfluenza, adenovirus, influenza và những virus đường hô hấp khác là những nguyên nhân khác ít gặp hơn.



    2/ Ở NHÓM TUỔI NÀO VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN THƯỜNG XẢY RA ?

    - Nhũ nhi và trẻ nhỏ.
    - Bệnh viêm tiểu phế quản thường thấy nhiều nhất ở trẻ từ 3 đến 6 tháng.
    - Bệnh viêm tiểu phế quản hầu như chỉ xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi.
    - Chiếm tỷ lệ 17% của tất cả những trường hợp nhập viện của nhũ nhi.
    - Thường xảy ra vào mùa đông và mùa xuân.
    - Mặc dầu trẻ lớn hơn và người trưởng thành cũng có thể bị viêm tiểu phế quản bởi cùng virus, nhưng không có bệnh cảnh lâm sàng của viêm tiểu phế quản ở nhũ nhi bởi vì ở người trưởng thành phù viêm tiểu phế quản chịu đựng được hơn.

    3/ KẾ CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU CHỨNG LÂM SÀNG
    -Thở nhanh, thở khò khè, cánh mũi phập phồng, và co rút liên sườn.
    - Tăng thông khí với tần số hô hấp 70-90 mỗi phút không phải là hiếm.
    - Thường 1-2 ngày trước đó trẻ chảy nước mũi, ho ,hoặc sốt nhe.
    - Lồng ngực thường phồng ra và âm vang và hơi thở thường nông do khí bị kẹt.
    - Nghe phổi phát hiện thở khò khè rải rác khắp nơi, kỳ thở ra kéo dại, và tiếng ran.
    - Gan và lách có thể bị đẩy xuống dưới do phổi tăng phồng khí và cơ hoành bị bẹt ra.
    - Trạng thái hô hấp ngực bụng không đồng bộ tương quan với độ nghiêm trọng của tắc nghẽn.
    - Suy kiệt hô hấp có thể xảy ra và ngừng thở không phải là hiếm, nhất là ở các nhũ nhi rất nhỏ tuổi và nhũ nhi sinh non.
    - Nhũ nhi nhỏ tuổi có thể chỉ có ngừng thở.
    - Thường có sốt và bệnh nhân không có vẻ nhiễm độc.
    - Thở ra có thể bị kéo dài như các bệnh nghẽn đường hô hấp dưới khác.

    4/ NGUYÊN NHÂN CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN ?
    - RSV là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp.
    - Hầu hết các trường hợp còn lại là đo parinfluenza, adénovirus và influenza. - virus respiratoire syncytial (VRS)
    - adénovirus
    - parainfluenzae và influenza
    - rhinovirus-entérovirus
    - virus gây sốt phát ban : sởi, rubéole
    - CMV

    6/ RSV ĐƯỢC TRUYỀN NHƯ THẾ NÀO ?
    - Các cơn bộc phát cao nhất xảy ra vào mùa đông và mùa xuân.
    - Rất dễ lây lan và được truyền do tiếp xúc trực tiếp với các bề mặt bị ô nhiễm hoặc các chất tiết của các bệnh nhân.

    7/ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN CÓ GÂY NHIỄM KHÔNG ?
    - Dó hai loại truyền bệnh : truyền bằng không vận và truyền bằng thủ vận.
    - Virus hiện diện trong các dịch tiết đường hô hấp nơi các bệnh nhi bị nhiễm trùng (trước hết là ở các bệnh nhi nhập viện, những nhân viên điều dưỡng và khách thăm bệnh cũng vậy) có thể được lây truyền bằng những hạt khí lớn lúc tiếp xúc gần với bệnh nhân.
    - Ngoài ra, virus có thể tồn tại 30 phút trên bề mặt da hoặc áo blouse bằng vải, 2 giờ trên gant khám bệnh; điều này cho phép virus lan truyền giữa các bề mặt này với các bàn tay của nhân viên. Vậy những bàn tay bị ô nhiễm sẽ là nguyên nhân của truyền bệnh.

    8/ CÓ CÁCH GÌ ĐỂ NGĂN NGỪA NHIỄM TRÙNG RSV KHÔNG ?
    - Rửa tay kỹ và rửa sạch các bề mặt là biện pháp phòng ngừa sự truyền bệnh.
    - Cho mãi đến nay mọi cố gắng sản xuất vaccin đều không thành công.
    - Có hai phép trị liệu phòng ngừa RSV :
    - Gây miễn dịch thụ động bằng tiêm truyền tĩnh mạch immunoglobulin đặc hiệu chống lại RSV (RSV-IGIV), đã được chứng tỏ là làm giảm tỷ lệ nhập viện và mức độ nghiêm trọng của bệnh ở các bệnh nhi có nguy cơ cao.
    - Palivizumab là một kháng thể đơn dòng nhằm chống lại F protein, được tiêm dưới da hàng tháng, và được chứng tỏ giảm tỷ lệ nhập viện.
    - Cả hai phuơng pháp được xem là an toàn và hiệu quả nhưng sử dụng chỉ giới hạn ở trẻ có nguy cơ cao mà thôi

    9/ SINH LÝ BỆNH LÝ CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
    - Nhiễm trùng gây viên biểu mô tiểu phế quản, đưa đến hoại tử, tróc niêm mạc và gây tắc nghẽn lòng tiểu phế quản. Phù cũng góp phần gây tắc nghẽn.
    - Tắc nghẽn tiểu phế quản và những phế quản nhỏ không đồng bộ trên 2 phế trường, đưa đến sự bất tương hợp giữa sự đẩy máu và thông khí và giảm oxy. Sự giảm oxy dẫn đến tăng thông khí bù, khí bị kẹt và xẹp phổi.
    - Biểu mô thường tái sinh trong vòng 3-4 ngày, tuy nhiên sự tái sinh của biểu mô tiêm mao cần khoảng 2 tuần.
    - Virus xâm nhập các tiểu phế quản gây nên phù, xuất tiết niêm dịch và tích lũy các tế bào bị hoại tử, khiến tiểu phế quản bị nghẽn và gây nên sự bất tương hợp giữa sự đẩy máu và thông khí.

    10/ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT TIẾNG KHÒ KHÈ ?
    - Suyễn
    - Thường đáp ứng rõ rệt hơn và nhanh hơn với thuốc dãn phế quản
    - Trước đây trẻ đã có nhiều đợt thở khò khè
    - Có các yếu tố nguy cơ gây suyễn
    - Viêm tiểu phế quản
    - Thường lẫn lộn với suyễn và có thể không phân biệt được trong giai đoạn đầu của suyễn khi kèm theo nhiễm trùng virus.
    - Việc đáp ứng với thuốc dãn phế quản không loại trừ chẩn đoán viêm tiểu phế quản vì vài trẻ có co thắt phế quản ở một mức độ nào đó.
    - Vật lạ đường hô hấp
    - Xơ hóa nang
    - Dãn phế quản
    - Hồi lưu dạ dày thực quản
    - Bệnh tim bẩm sinh
    - Suy tim
    - Vòng huyết quản

    11/ KỂ NHỮNG CHẤN ĐOÁN PHÂN BIỆT CHÍNH CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN ?
    - Hít vật lạ vào đường hô hấp
    - Viêm phổi do vi khuẩn : haemophilus influenza, pneumocoque, chlamydia
    - Ho gà
    - Staphylococcie pleuro-pulmonaire
    - Suyễn giai đoạn đầu ở nhũ nhi
    - Suy tim

    12/ NHỮNG XÉT NGHIỆM PHỤ CẦN THỰC HIỆN TRƯỚC BỆNH NHI BỊ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN ?
    - Đối với các thế trung bình : không cần một xét nghiệm nào
    - Nếu bệnh nhi nhập viện :
    - Xét nghiệm tìm VRS bằng IF gián tiếp ở dịch tiết mũi họng
    - Chụp phim phổi
    - NFS-CRP trong trường hợp nghi bội nhiễm phế quản
    - Gazométrie-ionogramme trường hợp thể nặng để đánh giá ảnh hưởng

    13/ CÓ XÉT NGHIỆM TÌM RSV (RESPIRATORY SYNCYTIAL VIRUS) KHÔNG ? LỢI ÍCH CỦA XÉT NGHIỆM NÀY ?
    - RSV có thể được nhận dạng trong dịch tiết của mũi bằng cách cấy siêu vi khuẩn.
    - Rapid Antigen Testing hiện có ở đa số các phòng xét nghiệm bệnh viện.
    Độ nhạy cảm của các xét nghiệm từ 80-90% và mức độ đặc hiệu trên 90%. Tuy nhiên lợi ích lâm sàng của những xét nghiệm này hạn chế vì điệu trị nhằm vào các triệu chứng lâm sàng hơn là tác nhân gây bệnh. Điều trị thường giống nhau dầu cho kết quả các xét nghiệm như thế nào đi nữa.
    - Rapid antigen testing có 2 chỉ định :
    - Thứ nhất là những bệnh nhân được nhập viện : sự cách ly những bệnh nhân dương tính đã được chứng tỏ làm giảm nguy cơ truyền bệnh trong bệnh viện và như vậy có hiệu quả vẻ mặt giảm phí tổn y tế
    - Thứ hai là xét nghiệm nên được dùng để xác nhận sự hiện diện của RSV ở vài bệnh nhân có nguy cơ cao. Nếu dương tính sẽ có chỉ định dùng ribovirin ở những bệnh nhân này

    14/ KẾ CÁC TRIỆU CHỨNG QUANG TUYẾN CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
    - Chụp phổi cần thiết để loại trừ những bệnh lý khác.
    - Phổi tăng phồng khí (hyperinflation) và cơ hoành bẹt ra gây nên do khí bị kẹt là những dấu chứng thông thường nhất.
    - Thâm nhiễm quanh rốn phổi hoặc quanh phế quản và xẹp phổi có thể hiện diện và có thể không phân biệt được với viêm phổi do vi khuẩn.

    15/ VAI TRÒ CỦA THUỐC DÃN PHẾ QUẨN TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN ?
    - Sự hữu ích của thuốc dãn phế quản trong viêm tiểu phế quản không được rõ ràng.
    - Mặc dầu đã có nhiều nghiên cứu nhưng thiếu bằng chứng về tính hiệu quả.
    - Hầu hết các nhà nghiên cứu khuyên nên cho điều trị thử bằng thuốc beta-adrenergic ở trẻ bị viêm tiểu phế quản, đặc biệt là trẻ có tiền sử thở khò khè.
    - Thông thường cho thuốc beta-agonist dưới dạng khí dung ở phòng cấp cứu. Nếu trẻ đáp ứng với giảm thở khò khè, giảm gắng sức hô hấp hoặc giảm tần số hô hấp, thì tiếp tục cho ít nhất trong 48 giờ đầu của bệnh. Nếu không có đáp ứng với điều trị thử thì ngưng thuốc.
    - Épinéphrine dùng dưới dạng khí dung cũng đã được chứng tỏ là có lợi trong điều trị viêm tiểu phế quản

    16/ STEROIDS CÓ VAI TRÒNG TRONG VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN KHÔNG ?
    - Không được chứng tỏ là có lợi và không được khuyên sử dụng.
    - Các nghiên cứu đã chứng tỏ dùng corticosteroids bằng đường toàn thân hay dưới dạng khí dung đều không có tác dụng trong điều trị viêm tiểu phế quản.
    - Steroids có thể có ích nơi các trẻ trước đây có tiền sử thở khò khè hoặc có tiền sử bản thân và gia đình bị quá mẫn và đáp ứng với beta-agonists dưới dạng khí dung.

    17/ KHI NÀO THÌ DÙNG RIBAVIRIN ?
    - Hầu hết các thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ rằng điều trị sớm bằng ribavirin cải thiện sự hấp thu oxy (oxygenation), giảm nhu cầu thông khí cơ học, làm ngắn thời gian nhập viện và cải thiện chức năng phổi.
    - Tuy nhiên do phí tổn, hiệu quả và mức độ an toàn, ribavirin chỉ dành cho một số trường hợp chọn lọc mà thôi.
    - Khi RSV được xác nhận, ribavirin có thể được sử dụng ở những bệnh nhân suy hô hấp nghiêm trọng, những bệnh nhân có kèm theo những bệnh khác như bệnh tim bẩm sinh, loạn sản phế quản phổi (dysplasie bronchopulmonaire), xơ hóa nang, suy giảm miễn dịch, bệnh nhân mới được ghép cơ quan và những trẻ đang được điều trị hóa học trị liệu và bệnh nhân dưới 6 tuần

    18/ LIỆT KÊ CÁC TIỂU CHUẨN NHẬP VIỆN CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
    - Trẻ tuổi dưới 2 tháng
    - Giảm oxy huyết
    - Bệnh sử ngừng thở
    - Thở nhanh mức độ vừa phải và bỏ ăn
    - Suy kiệt hô hấp
    - Bệnh mãn tính tim phổi

    19/ KỂ CÁC TIỂU CHUẨN ĐỂ CHẤN ĐOÁN VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN THỂ NẶNG
    a/ Thể trạng
    - Sinh non, tuổi < 6 tuần.
    - Bệnh tim, bệnh nhầy nhớt, loạn sản phế quản phổi.
    - Suy giảm miễn dịch nặng.

    b/ Triệu chứng hô hấp:

    - Thiếu oxy nghiêm trong: chứng xanh tím, mất bảo hòa.
    - Tăng thán huyết: cao huyết áp, ra mồ hôi, dãy dụa, tim đập nhanh, rối loạn tâm thần.
    - Gia tăng signes de lutte.
    - Suy kiệt : ngừng thở, pauses, biến mất các dấu hiệu.

    c/ Rối loạn huyết động học

    d/ Rối loạn tâm thần
    e/ Khó khăn dinh dưỡng

    20/ BỆNH NHI NÀO CÓ NGUY CƠ BỊ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN THỂ NẶNG ?
    - Các yếu tố nguy cơ gây viêm phế quản thể nặng gồm có : rất nhỏ tuổi, sinh non, bệnh tim và phổi và suy giảm miễn dịch.
    - Hầu hết các bệnh nhi trước đây mạnh khỏe mắc bệnh thể nhẹ hoặc trung bình và không cần phải nhập viện.
    -Tuy nhiên, vài đặc tính lâm sàng có thể tiên lượng về khả năng phát triển bệnh thể nặng hơn. Một điểm số bằng hoặc lớn hơn 3 có một độ nhay cảm và đặc hiệu khoảng 80% để tiên liệu bệnh nặng và như vậy cần nhập viện.

    Sau đây là bảng kèm theo điểm cho mỗi đặc điểm lâm sàng :



    20/ KẾ CÁC BIẾN CHỨNG CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN

    a/ Trước mắt
    - Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thât
    - Xẹp phổi, tràn khí thủng
    - Bội nhiễm vi khuẩn
    - Ngừng thở, khó ở

    b/Về sau:
    - Suyễn
    - Dãn phế quản
    - Tăng phản ứng khí quản

    21/ TRẺ BỊ MỘT ĐỢT VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN CÓ PHẢI LÀ YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỂ PHÁT SINH SUYỄN SAU NÀY ?
    - Hiện nay chưa rõ các đợt viêm tiểu phế quản có phải là nguyên nhân của suyễn sau này hay trẻ bị suyễn có một bất thường về sinh lý hô hấp khiến chúng trở nên dễ mắc bệnh viêm tiểu phế quản.
    - Nhiều trẻ bị viêm tiểu phế quản (30-50%) về sau này mang chẩn đoán là suyễn. Người ta gọi là suyễn bắt đầu từ đợt tái phát thứ ba của viêm tiểu phế quản.
    - Hiện nay chưa có bằng chứng để nói rằng viêm tiểu phế quản thường xảy ra khi có một thế trạng dị ứng gia đình, cũng không thể xác nhận rằng virus có khả năng hoàn toàn gây ra suyễn

    22/ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
    - Đa số bệnh nhi (95%) không mắc bệnh thể nặng có thể được điều trị ngoại trú. Chủ yếu là điều trị triệu chứng.
    - Chỉ có một điều trị hiệu quả : Liệu pháp vận động hô hấp, phải được thực hiện bởi một thầy thuốc liệu pháp vận động có kinh nghiệm, 1-2 lần mỗi ngày cách xa bữa ăn. Liệu pháp vận động hồ hấp giúp tống xuất các dịch tiết phế quản, cải thiện động lực phổi và lồng ngực và sự thông khí nhưng không thể thay thế việc khai thông tỵ hầu
    - Thực hiện sát trùng mũi họng trước khi cho bú
    - Tránh những nơi hút thuốc
    - Làm ẩm không khí
    - Tư thế nằm ngửa nghiêng về phía trước
    - Cho ăn nhiều lần
    - Hạ nhiệt nếu cần
    - Không có nghiên cứu nào chứng tỏ tính hiệu quả của các thuốc làm biến đổi niêm dịch
    - Các thuốc chống ho chống chỉ định dùng trước 30 tháng vì đi ngược lại hiệu quả mong muốn (dẫn lưu phế quản).
    - Thuốc kháng sinh chỉ có chỉ định khi có bội nhiễm phế quản
    - Giáo dục bố mẹ : khi có dấu chứng bệnh nặng phải mang trẻ trở lại phòng cấp cứu

    23/ VIẾT MỘT Y LỆNH VỀ VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU HÔ HẤP CHO VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
    - Vận động trị liệu hô hấp với kỹ thuật gia tăng lưu lượng khí thở ra và gây ho.
    - 5 buổi vận động trị liệu

    24/ ĐIỀU TRỊ MỘT VIÊM TIÊU PHẾ QUẢN PHỔI Ở BỆNH VIỆN NHƯ THỂ NÀO ?
    - Điều trị giống hệt với điều trị tại nhà
    - Thuốc giãn phế quản dưới dạng khí dung
    - Điều trị thử
    - Thường ít hiệu quả trước 6 tháng
    - Nếu rối loạn ăn uống : cho ăn bằng đường dạ dày rồi truyền tĩnh mạch
    - Thông nội khí quản và chuyển vào phòng hồi sức trong trường hợp giảm oxy hoặc tăng thán huyết quan trọng, suy kiệt hoặc ngừng thở tạm thời.

    Références :
    - EMERGENCY MEDICINE SECRETS
    - PEDIATRIC EMERGENCY MEDICINE SECRETS.
    - PEDIATRIE : Questions et Réponses

    B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
    07/10/2006


    Copyright, 2006. Nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
    Gió vẫn thổi nhưng chong chóng không quay!

  2. #2
    Avatar của Lucky368
    Lucky368 Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Jan 2009
    Đang ở
    Việt Nam
    Bài viết
    2,858
    Thanks
    0
    Thanked 23 Times in 16 Posts
    Xu
    0

    Mặc định



    1. Dịch tễ học:

    - Thường gặp ở trẻ < 24 tháng.
    - 80% trẻ 2 – 6 tháng tuổi.

    2. Nguyên nhân:

    - Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitial Virus): 50 %.
    - Parainfluenza: 25%.
    - Adenovirus: 5%.
    - Influenza: 5%.
    - Các virus khác: 10 – 12%.



    Virus hô hấp hợp bào qua kính hiển vi điện tử xuyên.

    3. Sơ lược sinh bệnh học:

    RSV xâm nhập và nhân lên ở đường hô hấp trên => Phát triển trên tế bào biểu mô tiểu phế quản, gây ra:
    - Hoại tử lớp biểu mô hô hấp.
    - Phá hủy tế bào nhung mao.
    - Tẩm nhuận tế bào đơn nhân.
    - Phù nề lớp dưới niêm mạc.

    Các mảnh vỡ tế bào và fibrin tạo nên các nút gây tắc lòng phế quản => Ứ khí phế nang => Khò khè (wheezing) và khó thở thì thở ra.

    4. Lâm sàng:

    - Khởi đầu bằng triệu chứng nhiễm siêu vi: Ho, sốt nhẹ, sổ mũi.
    - 1, 2 ngày sau trẻ khò khè, thở nhanh, co lõm ngực, tăng kích thích, quấy khóc.
    - Khám phổi: Ran rít, ran ngáy hoặc ran ẩm nhỏ hạt.
    - Trẻ có thể bị mất nước do sốt, thở nhanh và bú kém.

    * Các dấu hiệu nặng:

    + Liên quan đến hô hấp: 1 trong các dấu hiệu sau.
    - Thở nhanh > 60 l/p.
    - Có cơn ngưng thở.
    - Tím.
    - Tái.
    - Bứt rứt, kích thích, vật vã.
    - Có tam chứng ứ CO2: Vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp tăng.

    Lưu ý: Khi không đo được HA cho những trẻ nhỏ, triệu chứng vã mồ hôi và mạch nhanh có thể nhầm lẫn với hạ đường huyết => Làm đường huyết tại giường ngay để loại trừ.



    Làm đường huyết tại giường khi không thể loại trừ hạ đường huyết.

    + Liên quan đến cơ địa:

    - Trẻ < 3 tháng, sinh non < 34 tuần: Nguy cơ ngưng thở cao.
    - Tim bẩm sinh có tăng áp phổi.
    - Suy giảm miễn dịch.
    - Loạn sản phổi.
    - Có bệnh lý miễn dịch đi kèm.

    5. Cận lâm sàng:

    4 cận lâm sàng chính:

    + X quang ngực thẳng:

    - Hình ảnh ứ khí phế nang.
    - Xẹp phổi lan tỏa có thể có do tắc nghẽn các tiểu phế quản
    - Thâm nhiễm phế nang khi có bội nhiễm.
    - 10% có X quang bình thường.

    + Công thức máu: Bạch cầu bình thường hoặc tăng chủ yếu lympho.

    + Khí máu động mạch: Làm trong những trường hợp nặng để đánh giá suy hô hấp.

    + Ion đồ:

    - Làm trong những trường hợp ứ khí nặng để tìm hội chứng tăng tiết ADH không thích hợp (Na+ máu giảm).
    - Cơ chế: Ứ khí phế nang => Giảm máu về tim => Giảm tưới máu đến vùng hạ đồi – tuyến yên => Phản ứng gây tăng tiết ADH.

    6. Chẩn đoán:

    + Trẻ < 2 tuổi, có:
    - Khò khè ít hoặc không đáp ứng giãn phế quản.
    - Ứ khí phế nang.
    - Thở nhanh, co lõm ngực.
    - Khám phổi: Ran rít, ran ngáy hoặc ran ẩm nhỏ hạt.
    - X quang ngực thẳng: Ứ khí có hoặc không kèm xẹp phổi hoặc thâm nhiễm.

    + Chẩn đoán phân biệt:
    - Hen phế quản nhũ nhi: Tiền căn ho, khò khè tái phát 3 lần hoặc hơn, tiền căn gia đình di ứng hoặc hen phế quản. Khò khè đáp ứng tốt giãn phế quản.
    - Dị vật đường thở: Hội chứng xâm nhập.
    - Trào ngược dạ dày thực quản: Triệu chứng ọc sữa.
    - Suy tim.

    7. Điều trị:

    - Cho nhập viện những trẻ có tình trạng nặng ở trên.

    7.1. Điều trị hỗ trợ hô hấp:

    + Giữ thông đường thở, hút đàm nhớt thường xuyên.
    + Nằm đầu cao.

    + Chỉ định thở Oxy ẩm qua canula:
    - Tím tái.
    - Thở nhanh > 60 lần/phút.
    - Co lõm ngực nặng.
    - Bú kém, bỏ bú.
    - Thở rên.
    Thở Oxy sao cho SpO2 > 90%, tốt nhất > 95%.

    + Chỉ định CPAP (Continuous Positive Airway Pressure):

    - Không đáp ứng với Oxy qua canula với FiO2 = 40%.
    - Thở nhanh > 60 l/p dù đang thở Oxy.
    - Có hình ảnh xẹp phổi trên X quang.



    CPAP

    + Chỉ định thở máy:

    - Thất bại với CPAP.
    - Có cơn ngưng thở.
    - Kiệt sức.

    + Giãn phế quản: Chưa được chứng minh có tác dụng, tuy nhiên vẫn được dùng trên lâm sàng.
    - Phun khí dung Beta 2: Salbutamol 0.15 mg/kg/lần.



    Khí dung Beta 2 tuy chưa được chứng minh có tác dụng nhưng vẫn được sử dụng


    + Corticoid: Có thể dùng trong các trường hợp nặng.
    - Dexamethasone 0.15 mg/kg/lần IV mỗi 6 – 8 giờ.

    7.2. Phát hiện và điều trị biến chứng:

    + 2 biến chứng thường gặp:

    - Suy hô hấp.
    - Bội nhiễm vi trùng (đa số là Hemophilus influenza).

    + Chỉ định kháng sinh:

    - Đối với dạng không có triệu chứng nặng: Lâm sàng không cải thiện sau 4 – 5 ngày, sốt cao > 38,5 oC, có dấu hiệu tổn thương nhu mô phổi/ X quang.
    - Dạng lâm sàng có triệu chứng nặng: Chưa loại trừ viêm phổi => Kháng sinh ngay.
    - Kháng sinh sử dụng: Ampicillin hoặc Cephalosporin 3 (Ceftriaxone, Cefotaxim).

    7.3. Cung cấp nước và dinh dưỡng đầy đủ:
    - Bù bằng đường tiêu hóa hoặc đường tĩnh mạch.
    - Bù đủ dịch để tránh tắc đàm.
    - Bù ¾ nhu cầu căn bản trên những bệnh nhân có hội chứng tăng tiết ADH không thích hợp.
    - Nếu trẻ thở quá nhanh ( > 60 l/p) không nên cho bú vì nguy cơ hít sặc cao.

    7.4. Thuốc chống siêu vi: Đắt tiền, dành cho trẻ có nguy cơ cao (< 3 tháng, sinh non, tăng áp phổi...)


    8. Diễn tiến:

    - Đa số giảm khò khè sau 3 – 4 ngày, khỏi bệnh hẳn từ 1 – 2 tuần.
    - Có biến chứng:
    + Suy hô hấp.
    + Bội nhiễm.
    - Kéo dài: Thường do Adenovirus.

    Nguồn:

    Giáo trình Nhi Khoa - Bộ môn Nhi - ĐHYD TPHCM.

    =======================================
    Theo: http://diendanykhoa.com/showthread.php?t=1764

  3. #3
    Avatar của Lucky368
    Lucky368 Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Jan 2009
    Đang ở
    Việt Nam
    Bài viết
    2,858
    Thanks
    0
    Thanked 23 Times in 16 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Tránh viêm tiểu phế quản cho trẻ mùa đông

    Thứ tư, 09 Tháng 12 2009 09:50

    Bệnh lưu hành quanh năm, nhưng thường bùng phát thành dịch vào mùa đông - xuân khi gặp nhiều yếu tố thuận lợi để bệnh phát sinh và phát triển, trong đó phải kể tới điều kiện sinh sống đông đúc chật hẹp, tạo điều kiện để virus phát tán nhanh chóng.

    Virus gây bệnh viêm tiểu phế quản chủ yếu do một loại virus đường hô hấp có tên là VRS, có khả năng gây bệnh cho mọi độ tuổi, nhưng hậu quả xấu nhất là gây bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh.
    VRS tán phát qua đường không khí (ho, hắt hơi) hoặc gián tiếp qua tay và các vật dụng nhiễm chất tiết mũi họng của bệnh nhân. VRS tồn tại trên da 30 phút và nhiều giờ trên các vật dụng bị ô nhiễm. VRS có khả năng lây lan rất mạnh khi trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh, do vậy cần tránh để trẻ tiếp xúc với người đang có chứng sổ mũi.



    Nếu trẻ bị sổ mũi, nên thường xuyên hút và rửa mũi cho trẻ bằng dung dịch sinh lý nhằm ngăn chặn virus xâm nhập xuống khí phế quản.

    Khoảng 95% trẻ bị nhiễm VRS trước tuổi lên 2, nhưng may mắn là có tới 70 - 80% chỉ biểu hiện triệu chứng viêm long đường hô hấp trên (sổ mũi, ho), và bệnh khỏi sau vài ngày mà không gây biến chứng gì.

    Nhưng số ít trường hợp còn lại, virus phát tán xuống đường hô hấp dưới để gây viêm phế quản và viêm tiểu phế quản. Các tiểu phế quản rất nhỏ nên dễ bị tắc do các chất nhầy ứ trệ ở đường thở, ngăn không khí tới các phế nang trong phổi, khiến bệnh nhân thiếu hụt oxy.

    Khi bệnh mới phát, bệnh nhân ho khan nhưng rồi cơn ho tiếp diễn ngày đêm, niêm mạc khí phế quản viêm dày, sinh đờm, khiến trẻ vướng đờm và khó thở, thở rít. Bệnh không có chỉ định kháng sinh do không có tác dụng với virus.
    Các đối tượng dễ nhiễm bệnh là trẻ sơ sinh nhỏ hơn 3 tháng tuổi, trẻ đẻ thiếu tháng, trẻ có bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh lý hô hấp (bệnh nhầy nhớt), trẻ bị suy giảm miễn dịch, trẻ bị nhiễm khói thuốc bị động.

    Để ngừa sự tái phát bệnh, biện pháp tốt nhất là không để trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh bằng tuân thủ các biện pháp đơn giản sau:
    - Rửa tay bằng xà phòng trước khi săn sóc trẻ.
    - Không hôn trẻ.
    - Tránh để trẻ sơ sinh 2 - 3 tháng tuổi tiếp xúc với môi trường đông người hoặc môi trường không khí quá tù hãm (duy trì sự thông thoáng của phòng trẻ ở )
    - Nếu trẻ bị sổ mũi, nên thường xuyên hút và rửa mũi cho trẻ bằng dung dịch sinh lý nhằm ngăn chặn virus xâm nhập xuống khí phế quản.
    - Không cho trẻ tiếp cận với những người đang có chứng sổ mũi hoặc dùng chung các dụng cụ của trẻ khác.
    - Không hút thuốc trong phòng trẻ ở.
    BACSI.com (Theo Bee)

  4. #4
    Avatar của Lucky368
    Lucky368 Đang Ngoại tuyến Nhi đồng măng non
    Ngày tham gia
    Jan 2009
    Đang ở
    Việt Nam
    Bài viết
    2,858
    Thanks
    0
    Thanked 23 Times in 16 Posts
    Xu
    0

    Mặc định

    Viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh vốn là bệnh rất hay gặp ở trẻ sơ sinh nhưng nhiều bậc phụ huynh không biết chăm sóc đúng cách, không được thăm khám chính xác, khiến các bé bị biến chứng nặng nề, gây suy hô hấp. Chúng tôi đã trao đổi với TS Lê Thanh Hải, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương xung quanh vấn đề này.

    Dễ nhầm

    Viêm tiểu phế quản là bệnh rất hay gặp ở trẻ bú mẹ và rất dễ nhầm với các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp khác. Vì trẻ thường có các biểu hiện như ho, ngạt mũi, xổ mũi, hắt hơi… Do đó, tình trạng phụ huynh và chính các bác sỹ chẩn đoán nhầm bệnh xảy ra phổ biến. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý ở viêm tiểu phế quản là đi kèm theo các triệu chứng ho, hắt hơi, xổ mũi nước trong, trẻ thường không bị sốt hoặc chỉ sốt nhẹ. Ngay cả trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản cũng như vậy.

    Trẻ có thể bị ho ngày càng nặng và xuất hiện thở khò khè, nhất là về nửa đêm, gần sáng. Khi bệnh bùng phát, cơn ho tăng và trẻ càng khó thở, kèm theo biểu hiện kém ăn, hay nôn trớ. Khi bệnh nặng hơn, trẻ có dấu hiệu thở hổn hển, ăn kém và tỏ ra rất mệt mỏi, không muốn nói chuyện, chơi đùa.

    Dễ điều trị sai

    Do bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh đường hô hấp khác, nhiều trẻ bị viêm tiểu phế quản bị kê đơn hoặc tự ý cho dùng kháng sinh ngay khi mới chớm bệnh. Điều này dẫn tới hiệu quả điều trị không như mong muốn và có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.

    Tuy vậy, tình trạng lạm dụng kháng sinh cho trẻ bị viêm tiểu phế quản xảy ra rất phổ biến. Một điều nguy hiểm nữa, là nhiều trẻ dùng sai thuốc, nhưng lại nhanh chóng giảm các triệu chứng sau khi uống kháng sinh. Có trẻ chỉ uống kháng sinh 3 ngày đã giảm triệu chứng ho, ngạt mũi, sau 6 ngày thì bú bình thường trở lại và hết hẳn triệu chứng bệnh.

    Do vậy, phụ huynh càng dễ hiểu lầm tác dụng điều trị và tiếp tục lạm dụng kháng sinh. Khoảng một vài tuần, tháng sau, trẻ lại có những triệu chứng như lần trước, phụ huynh thường tiếp tục cho trẻ uống thuốc theo đơn cũ, nhưng bệnh không thuyên giảm.

    Bệnh nhẹ thành nặng
    Trên thực tế, nhiều trẻ được chẩn đoán viêm tiểu phế quản tại Bệnh viện Nhi Trung ương sau khi đã trải qua quá trình điều trị sai. Khi đó, nhiều trẻ đã có những biến chứng nặng nề như tắc đường thở, bội nhiễm gây sốt…, dẫn đến suy hô hấp, khiến việc điều trị trở nên phức tạp và tốn kém. Trong khi đó, viêm tiểu phế quản không phải là bệnh nguy hiểm hay khó điều trị, thậm chí tự khỏi nếu được phát hiện, chăm sóc kịp thời.

    Điều trị đúng
    Không dùng kháng sinh khi viêm tiểu phế quản ở giai đoạn khởi bệnh, biện pháp chủ yếu là làm long đờm, cho trẻ ăn uống đủ dinh dưỡng để tăng đề kháng. Có thể điều trị các triệu chứng cho trẻ bằng nhiều cách như tăng cường bú mẹ, nếu trẻ đã ăn dặm thì cho ăn loãng hơn, uống thêm nước lọc, nước ép hoa quả, nước cháo... theo nhu cầu, cho trẻ ăn thức ăn dễ tiêu, làm thành nhiều bữa nhỏ trong ngày.
    Trước khi cho trẻ ăn cần lưu ý làm thông thoáng mũi, họng cho trẻ bằng cách nhỏ nước muối sinh lý. Mỗi lần 5-6 giọt, ngày 5-6 lần hoặc hơn. Sau khi nhỏ nước muối sinh lý xong thì đợi một lát để nước mũi loãng ra thì dùng dụng cụ, có thể dùng miệng để hút sạch mũi cho trẻ. Nhiều trẻ tự khỏi bệnh sau vài ngày, nếu được chăm sóc tốt ngay từ đầu.

    Nếu trẻ có biểu hiện sốt thì không nên ủ trẻ quá ấm, dùng nước ấm chườm vào nách, cổ, bẹn cho trẻ. Nếu trẻ sốt trên 38,5 độ C, có thể cho uống Paracetamol để hạ sốt theo liều lượng phù hợp với trọng lượng cơ thể.

    Đối với trường hợp đã bị biến chứng nặng gây bít tắc đường thở, trẻ có biểu hiện thở mệt nhọc, ăn uống kém, nôn trớ nhiều, thì cần đưa ngay đến bệnh viện khám để được điều trị thích hợp. Đối với trẻ đã bị bội nhiễm gây sốt, đờm dãi đậm đặc, thì bác sỹ cần có chỉ định dùng kháng sinh.

    Nếu trẻ có dấu hiệu suy hô hấp, biểu hiện là cánh mũi thở phập phồng, thở mạnh khiến bụng hóp sâu, nhịp thở lên đến hơn 50-70 lần/phút thì nhất thiết phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện.

    Không chủ quan
    Tuy là bệnh thông thường, nhưng không nên chủ quan với viêm tiểu phế quản, vì bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh. Cách tốt nhất là chủ động phòng bệnh cho trẻ bằng cách vệ sinh mũi, họng, cơ thể sạch sẽ cho trẻ hàng ngày; vệ sinh chăn ga, gối đệm, đảm bảo phòng ngủ thông thoáng; người lớn không hút thuốc trong nhà; rửa tay sạch sẽ trước khi cho trẻ ăn; tránh cho trẻ tiếp xúc với người bị bệnh hô hấp trong gia đình hoặc xung quanh

    Trần Tân Hương (thực hiện)


    ==============
    Nguồn : CAND


SEO by vBSEO ©2011, Crawlability, Inc.